Thắng kiện không đồng nghĩa với việc tiền sẽ tự động quay về tài khoản của chủ nợ. Một bản án, dù đã có hiệu lực pháp luật, vẫn chỉ là cơ sở pháp lý để Nhà nước tổ chức thi hành; còn việc thu hồi được tiền hay không phụ thuộc rất lớn vào việc người được thi hành án có chủ động yêu cầu thi hành án, cung cấp thông tin tài sản, đề nghị áp dụng biện pháp bảo đảm và phối hợp chặt chẽ với Chấp hành viên hay không.
Nói thẳng: thắng kiện mới là thắng trên giấy. Thu hồi được tiền mới là kết quả cuối cùng.
I. BẢN ÁN KHÔNG TỰ BIẾN THÀNH TIỀN
Trong nhiều vụ tranh chấp vay mượn, mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ, góp vốn hoặc bồi thường thiệt hại, bên thắng kiện thường có tâm lý “Tòa đã tuyên rồi thì bên kia phải trả”. Về nguyên tắc, đúng là bên thua kiện phải thực hiện nghĩa vụ theo bản án. Nhưng trên thực tế, nếu họ không tự nguyện trả tiền, người được thi hành án phải chuyển sang giai đoạn thi hành án dân sự.
Giai đoạn này không còn là cuộc tranh luận về đúng sai trước Tòa. Đây là giai đoạn truy tìm, phong tỏa, kê biên, xử lý tài sản và buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy, người được thi hành án không nên chỉ chờ cơ quan thi hành án “tự làm tất cả”, mà cần chủ động như một bên đang thực hiện chiến lược thu hồi tài sản.
Căn cứ khoản 1 Điều 30 Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 ngày 14/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/7/2009, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 64/2014/QH13 ngày 25/11/2014, có hiệu lực từ ngày 01/7/2015, được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-VPQH ngày 24/02/2025 của Văn phòng Quốc hội:
“Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.”
Quy định này cho thấy, quyền yêu cầu thi hành án có thời hạn. Nếu để quá thời hiệu mà không thuộc trường hợp được loại trừ do trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng, người được thi hành án có thể mất quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tổ chức thi hành.
II. VIỆC ĐẦU TIÊN: NỘP ĐƠN YÊU CẦU THI HÀNH ÁN
Sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án cần nhanh chóng chuẩn bị hồ sơ yêu cầu thi hành án. Không nên chờ người phải thi hành án tự giác trả tiền, nhất là trong các vụ việc đã có dấu hiệu chây ì, né tránh, chuyển nhượng tài sản hoặc thay đổi nơi cư trú.
Cơ quan tiếp nhận thường là Chi cục Thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc có tài sản. Trong một số trường hợp thuộc thẩm quyền cấp tỉnh, hồ sơ sẽ được nộp tại Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh.
Hồ sơ cơ bản gồm: đơn yêu cầu thi hành án, bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, giấy tờ tùy thân hoặc giấy tờ pháp lý của người yêu cầu, tài liệu chứng minh thông tin về tài sản, tài khoản, thu nhập hoặc địa chỉ của người phải thi hành án, nếu có.
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 ngày 14/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/7/2009, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 64/2014/QH13 ngày 25/11/2014, có hiệu lực từ ngày 01/7/2015, được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-VPQH ngày 24/02/2025 của Văn phòng Quốc hội:
“1. Đương sự tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng hình thức trực tiếp nộp đơn hoặc trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua bưu điện. Người yêu cầu phải nộp bản án, quyết định, tài liệu khác có liên quan.
Ngày yêu cầu thi hành án được tính từ ngày người yêu cầu nộp đơn hoặc trình bày trực tiếp hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi.
2. Đơn yêu cầu phải có các nội dung sau đây:
a) Tên, địa chỉ của người yêu cầu;
b) Tên cơ quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu;
c) Tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án;
d) Nội dung yêu cầu thi hành án;
đ) Thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, nếu có;
e) Ngày, tháng, năm làm đơn;
g) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm đơn; trường hợp là pháp nhân thì phải có chữ ký của người đại diện hợp pháp và đóng dấu của pháp nhân, nếu có.”
Sau khi nhận được yêu cầu hợp lệ, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án theo yêu cầu trong thời hạn luật định.
Căn cứ khoản 1 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 ngày 14/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/7/2009, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 64/2014/QH13 ngày 25/11/2014, có hiệu lực từ ngày 01/7/2015, được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-VPQH ngày 24/02/2025 của Văn phòng Quốc hội:
“Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án khi có yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
Thời hạn ra quyết định thi hành án theo yêu cầu là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án.”
III. ĐỪNG CHỈ NỘP ĐƠN RỒI NGỒI CHỜ
Một trong những sai lầm phổ biến của chủ nợ là nộp xong đơn yêu cầu thi hành án rồi chờ đợi bị động. Trong khi đó, người phải thi hành án có thể đang chuyển nhượng nhà đất, rút tiền khỏi tài khoản, chuyển cổ phần, thay đổi người đại diện doanh nghiệp, hoặc để tài sản đứng tên người thân.
Thi hành án dân sự là cuộc đua về thông tin tài sản. Ai có thông tin sớm hơn, người đó có lợi thế lớn hơn.
Căn cứ Điều 44 Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 ngày 14/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/7/2009, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 64/2014/QH13 ngày 25/11/2014, có hiệu lực từ ngày 01/7/2015, được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-VPQH ngày 24/02/2025 của Văn phòng Quốc hội, Chấp hành viên có trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án; đồng thời người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.
Khoản 5 Điều 44 quy định:
“Người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự.”
Đây là quyền rất quan trọng. Người được thi hành án không bị buộc phải chờ Chấp hành viên tự xác minh toàn bộ. Ngược lại, nếu có thông tin về nhà đất, ô tô, tài khoản ngân hàng, cổ phần, vốn góp, tiền lương, tiền cho thuê nhà, công nợ phải thu hoặc tài sản do người thứ ba đang giữ, người được thi hành án nên lập tức cung cấp cho Chấp hành viên bằng văn bản.
IV. CẦN XÁC MINH NHỮNG LOẠI TÀI SẢN NÀO?
Tài sản để thi hành án không chỉ là tiền mặt. Trong thực tế, nhiều người phải thi hành án không đứng tên nhiều tiền trong tài khoản, nhưng vẫn có tài sản, quyền tài sản hoặc dòng tiền có thể xử lý.
Người được thi hành án nên tập trung xác minh các nhóm tài sản sau:
Nhà đất, căn hộ, quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; thông tin có thể xác minh qua cơ quan đăng ký đất đai hoặc nguồn tài liệu giao dịch, hợp đồng, sao kê thanh toán, hồ sơ vay ngân hàng.
Ô tô, xe máy, phương tiện vận tải, máy móc, thiết bị; cần xác định biển số, nơi đăng ký, nơi đang quản lý, người đang sử dụng thực tế.
Tài khoản ngân hàng, ví điện tử, dòng tiền giao dịch; nếu biết ngân hàng thường giao dịch, số tài khoản, chi nhánh hoặc lịch sử chuyển khoản, cần cung cấp ngay cho Chấp hành viên.
Cổ phần, phần vốn góp, cổ tức, lợi nhuận được chia; thông tin có thể xác minh qua hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, điều lệ công ty, báo cáo tài chính, nghị quyết góp vốn, hợp đồng chuyển nhượng vốn.
Tiền lương, tiền công, tiền cho thuê tài sản, doanh thu từ kinh doanh; đây là nguồn có thể bị khấu trừ hoặc thu để thi hành án nếu đáp ứng điều kiện luật định.
Tài sản đang do người thứ ba giữ, tài sản đứng tên người thân nhưng có dấu hiệu che giấu, tẩu tán; nhóm này cần chứng cứ chặt chẽ hơn, như nguồn tiền mua tài sản, thời điểm chuyển dịch, quan hệ giữa các bên, giá chuyển nhượng bất thường, giao dịch không có thanh toán thực.
Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 ngày 14/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/7/2009, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 64/2014/QH13 ngày 25/11/2014, có hiệu lực từ ngày 01/7/2015, được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-VPQH ngày 24/02/2025 của Văn phòng Quốc hội:
“Xác minh cụ thể tài sản, thu nhập, các điều kiện khác để thi hành án; đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm thì còn phải xác minh tại cơ quan có chức năng đăng ký tài sản, giao dịch đó.”
Đặc biệt, điểm b khoản 6 Điều 44 cũng quy định trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan, tổ chức đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án:
“Bảo hiểm xã hội, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, công chứng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; ký vào biên bản trong trường hợp Chấp hành viên xác minh trực tiếp hoặc trả lời bằng văn bản trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của Chấp hành viên, đối với thông tin về tài khoản thì phải cung cấp ngay.”
V. PHẢI ĐỀ NGHỊ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM KHI CÓ NGUY CƠ TẨU TÁN TÀI SẢN
Nếu có căn cứ cho thấy người phải thi hành án đang bán nhà, rút tiền, sang tên xe, chuyển nhượng cổ phần hoặc thay đổi hiện trạng tài sản, người được thi hành án cần làm ngay văn bản đề nghị Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án.
Đây là điểm mấu chốt. Nếu chậm một bước, tài sản có thể đã chuyển dịch sang người khác, việc thu hồi nợ sẽ phức tạp hơn rất nhiều.
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 66 Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 ngày 14/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/7/2009, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 64/2014/QH13 ngày 25/11/2014, có hiệu lực từ ngày 01/7/2015, được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-VPQH ngày 24/02/2025 của Văn phòng Quốc hội:
“1. Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án. Khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, Chấp hành viên không phải thông báo trước cho đương sự.
3. Các biện pháp bảo đảm thi hành án bao gồm:
a) Phong tỏa tài khoản;
b) Tạm giữ tài sản, giấy tờ;
c) Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản.”
Như vậy, nếu phát hiện người phải thi hành án có tài khoản ngân hàng, chủ nợ nên đề nghị phong tỏa tài khoản. Nếu phát hiện có nhà đất, xe hoặc tài sản phải đăng ký, cần đề nghị tạm dừng chuyển dịch, thay đổi hiện trạng. Nếu phát hiện họ đang giữ giấy tờ, tài sản có giá trị, cần đề nghị tạm giữ theo thẩm quyền.
VI. KHI HẾT THỜI HẠN TỰ NGUYỆN, CẦN THÚC ĐẨY CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN
Sau khi có quyết định thi hành án, người phải thi hành án có thời hạn tự nguyện thi hành. Nếu hết thời hạn này mà họ có điều kiện thi hành nhưng không thực hiện, Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế.
Căn cứ khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 ngày 14/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/7/2009, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 64/2014/QH13 ngày 25/11/2014, có hiệu lực từ ngày 01/7/2015, được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-VPQH ngày 24/02/2025 của Văn phòng Quốc hội:
“Thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án.”
Căn cứ khoản 1 Điều 46 của cùng văn bản:
“Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật này, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.”
Các biện pháp cưỡng chế được quy định tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự, gồm:
“1. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
2. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
3. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
4. Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
5. Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
6. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.”
Tùy từng vụ việc, người được thi hành án cần đề nghị Chấp hành viên lựa chọn biện pháp phù hợp. Nếu có tiền trong tài khoản thì khấu trừ. Nếu có lương hoặc thu nhập định kỳ thì trừ vào thu nhập. Nếu có nhà đất, xe, cổ phần, máy móc, hàng hóa thì kê biên, xử lý. Nếu có tài sản cho thuê hoặc tài sản có khả năng khai thác dòng tiền thì xem xét khai thác tài sản để thi hành án.
VII. CÓ THỂ ĐỀ NGHỊ TẠM HOÃN XUẤT CẢNH TRONG TRƯỜNG HỢP PHÙ HỢP
Trong một số vụ việc, người phải thi hành án có điều kiện thi hành nhưng có dấu hiệu chuẩn bị ra nước ngoài, né tránh nghĩa vụ, chuyển dịch tài sản hoặc gây khó khăn cho việc tổ chức thi hành án. Khi đó, người được thi hành án có thể đề nghị cơ quan thi hành án xem xét thủ tục tạm hoãn xuất cảnh theo quy định pháp luật.
Căn cứ khoản 4 Điều 36 Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam số 49/2019/QH14 ngày 22/11/2019, có hiệu lực từ ngày 01/7/2020:
“Người phải thi hành án dân sự, người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đang có nghĩa vụ thi hành bản án, quyết định được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự nếu có căn cứ cho thấy việc xuất cảnh của họ ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc để bảo đảm việc thi hành án.”
Căn cứ khoản 4 Điều 37 của Luật này:
“Thẩm quyền tạm hoãn xuất cảnh đối với trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 36 của Luật này thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.”
Vì vậy, tạm hoãn xuất cảnh không phải là biện pháp áp dụng tùy tiện hoặc theo cảm tính. Người yêu cầu cần cung cấp căn cứ cụ thể: thông tin về lịch xuất cảnh, việc người phải thi hành án có nghĩa vụ lớn nhưng không tự nguyện thi hành, dấu hiệu bán tài sản, rút tiền, đóng cửa doanh nghiệp, chuyển nơi cư trú hoặc các biểu hiện khác cho thấy việc xuất cảnh có thể ảnh hưởng đến quyền thu hồi nợ.
VIII. NHỮNG VIỆC CHỦ NỢ NÊN LÀM NGAY SAU KHI CÓ BẢN ÁN
Ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án nên triển khai đồng thời các việc sau:
Xin bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và chuẩn bị hồ sơ yêu cầu thi hành án càng sớm càng tốt.
Xác định đúng cơ quan thi hành án có thẩm quyền, đặc biệt trong trường hợp người phải thi hành án cư trú một nơi nhưng có tài sản ở nơi khác.
Lập danh mục tài sản nghi ngờ hoặc đã xác định được, gồm nhà đất, xe, tài khoản ngân hàng, cổ phần, phần vốn góp, thu nhập, hợp đồng cho thuê, khoản phải thu từ bên thứ ba.
Gửi văn bản cung cấp thông tin tài sản cho Chấp hành viên, kèm chứng cứ hoặc nguồn thông tin cụ thể.
Đề nghị phong tỏa tài khoản, tạm dừng chuyển dịch tài sản, tạm giữ giấy tờ hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm khác nếu có nguy cơ tẩu tán tài sản.
Theo dõi thời hạn tự nguyện thi hành án và đề nghị áp dụng biện pháp cưỡng chế khi người phải thi hành án có điều kiện nhưng không tự nguyện thực hiện.
Đề nghị xem xét tạm hoãn xuất cảnh nếu có căn cứ cho thấy người phải thi hành án xuất cảnh có thể ảnh hưởng đến việc thi hành án.
Trường hợp phát hiện tài sản đã bị chuyển nhượng bất thường, cần thu thập chứng cứ về thời điểm chuyển nhượng, giá trị giao dịch, quan hệ giữa các bên, dòng tiền thanh toán và mục đích che giấu nghĩa vụ nếu có.
IX. KẾT LUẬN
Một bản án có hiệu lực pháp luật là vũ khí pháp lý quan trọng, nhưng vũ khí đó chỉ phát huy hiệu quả khi được sử dụng đúng cách. Trong thu hồi nợ sau bản án, sự chủ động của người được thi hành án có ý nghĩa quyết định.
Đừng để bản án nằm trong ngăn kéo. Đừng chờ con nợ tự giác nếu họ đã có lịch sử né tránh. Đừng đợi tài sản bị bán xong rồi mới đi tìm biện pháp phong tỏa.
Muốn thu hồi nợ hiệu quả, người được thi hành án cần hành động theo đúng trình tự: nộp đơn yêu cầu thi hành án, xác minh tài sản, cung cấp thông tin cho Chấp hành viên, đề nghị áp dụng biện pháp bảo đảm, thúc đẩy cưỡng chế và sử dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong trường hợp có căn cứ.
Thắng kiện là điểm khởi đầu. Thu hồi được tiền mới là chiến thắng cuối cùng.