Ly hôn đơn phương khi vợ, chồng không ký đơn, không ra Tòa
Cập nhật: 23/10/2026
(Luat7s.com) – Chữ ký của bên kia không phải điều kiện để Tòa án giải quyết ly hôn. Luật trao quyền yêu cầu ly hôn cho từng người, còn tố tụng có cơ chế riêng khi bị đơn vắng mặt, biệt tích. Đáng chú ý, hướng dẫn năm 2024 không chỉ làm rõ thế nào là hôn nhân trầm trọng mà còn làm rõ phạm vi hạn chế quyền ly hôn của người chồng.
Những điểm chính của quy định
Theo quy định hiện hành, vợ hoặc chồng có quyền tự mình yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn mà không cần bên kia ký đơn. Bị đơn cố tình vắng mặt thì Tòa án không tiến hành hòa giải được và có thể xét xử vắng mặt. Riêng người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Để tiện theo dõi, Công ty Luật TNHH 7S tóm tắt các tình huống bên kia không hợp tác trong bảng dưới đây; từng nội dung được phân tích ở các mục tiếp theo.
| Tình huống | Hướng giải quyết | Căn cứ |
|---|---|---|
| Bên kia không ký đơn | Nộp đơn khởi kiện; Tòa án xét căn cứ ly hôn, không xét sự đồng ý của bị đơn | Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình |
| Bị đơn không đến Tòa | Không hòa giải được; xét xử vắng mặt từ lần triệu tập hợp lệ thứ hai | Điều 207, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự |
| Không biết bị đơn ở đâu | Nộp tại Tòa nơi bị đơn cư trú cuối cùng hoặc nơi có tài sản | Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự |
| Vợ, chồng biệt tích | Tuyên bố mất tích, sau đó Tòa án cho ly hôn | Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 56 |
| Vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự | Tòa án chỉ định người đại diện; người thân có thể đứng đơn | Khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 51 |
1. Không cần chữ ký của bên kia: căn cứ tại Điều 56
Điểm xuất phát là quyền yêu cầu ly hôn thuộc về từng người. Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19/6/2014 xác định “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.” (khoản 1 Điều 51). Khi một bên không ký, người còn lại nộp đơn khởi kiện và vụ việc trở thành vụ án tranh chấp hôn nhân; chữ ký của cả hai chỉ cần cho thủ tục thuận tình.
Dù vậy, quyền khởi kiện không đồng nghĩa với việc Tòa án đương nhiên chấp nhận. Khi hòa giải không thành, Tòa án chỉ cho ly hôn “nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.” (khoản 1 Điều 56). Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn các khái niệm này tại Điều 4:
a) Bạo lực gia đình: hành vi quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình;
b) Vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ: “là vi phạm quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng” dẫn đến xâm phạm nghiêm trọng quyền, lợi ích của bên kia, ví dụ “Vợ, chồng phá tán tài sản gia đình.”;
c) Hôn nhân trầm trọng: “Không có tình nghĩa vợ chồng”; “Vợ, chồng có quan hệ ngoại tình;” xúc phạm, làm tổn hại danh dự, nhân phẩm hoặc gây thương tích cho nhau; không bình đẳng về quyền, nghĩa vụ, không tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau.
Nói cách khác, việc của nguyên đơn là chứng minh căn cứ, không phải xin sự đồng ý; tin nhắn, hình ảnh thương tích, biên bản của công an về bạo lực nên được thu thập trước khi nộp đơn.
2. Khi người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn
Trước khi tính đến thái độ của bên kia, người chồng cần kiểm tra một giới hạn về thời điểm: “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.” (khoản 3 Điều 51). Người vợ không bị giới hạn này. Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP giải thích:
a) “Sinh con” gồm cả trường hợp “Vợ có thai từ 22 tuần tuổi trở lên mà phải đình chỉ thai nghén.” (khoản 2);
b) “Chồng không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tính từ ngày vợ sinh con” hoặc từ ngày đình chỉ thai nghén (khoản 3);
c) Giới hạn áp dụng “mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai.” (khoản 4); nuôi con dưới 12 tháng tuổi cũng không phân biệt con đẻ hay con nuôi (khoản 5).
3. Khi bên kia không nhận văn bản, không đến Tòa
Trên thực tế, bị đơn thường không nhận văn bản, không đến hòa giải, không ra phiên tòa. Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 (sửa đổi bởi Luật số 85/2025/QH15) xử lý theo trình tự sau.
Bước 1: Nộp đơn đúng Tòa, ghi đúng địa chỉ bị đơn
Tòa án nhân dân khu vực nơi bị đơn cư trú, làm việc giải quyết (điểm a khoản 1 Điều 39); địa chỉ ghi theo phường, xã mới. Hồ sơ, án phí xem tại bài ly hôn tại Hà Nội nộp đơn ở tòa nào và bài ly hôn tại TP.HCM nộp đơn ở tòa nào.
Bước 2: Tống đạt, niêm yết văn bản
Bị đơn từ chối nhận văn bản không làm thủ tục dừng lại; Tòa án niêm yết công khai tại trụ sở Tòa và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú, hết thời hạn niêm yết thì coi như đã nhận.
Bước 3: Hòa giải không tiến hành được
Hòa giải là bắt buộc, nhưng vụ án không tiến hành hòa giải được khi “Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.” (khoản 1 Điều 207); tương tự khi vợ hoặc chồng mất năng lực hành vi dân sự, hoặc một đương sự đề nghị không hòa giải (khoản 3, 4 Điều 207).
Bước 4: Xét xử vắng mặt bị đơn
Lần triệu tập hợp lệ thứ nhất mà đương sự vắng mặt thì phiên tòa bị hoãn, trừ khi có đơn xin xét xử vắng mặt (khoản 1 Điều 227). Đến lần thứ hai, nếu “Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt” mà không có người đại diện và không vì sự kiện bất khả kháng, Tòa án xét xử vắng mặt họ (điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228). Ngược lại, nguyên đơn vắng mặt lần thứ hai mà không có đơn thì vụ án bị đình chỉ.
3.1. Không biết bị đơn đang ở đâu
Đối với vấn đề này, luật cho phép: “Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;” (điểm a khoản 1 Điều 40). Bị đơn không có nơi cư trú ở Việt Nam thì nguyên đơn có thể nộp tại Tòa nơi mình cư trú (điểm c khoản 1 Điều 40). Với bị đơn ở nước ngoài không rõ địa chỉ, nếu người thân thích có liên hệ nhưng không cung cấp địa chỉ, không chuyển thông báo của Tòa án, bị đơn “được coi là cố tình giấu địa chỉ” và Tòa án xét xử vắng mặt (Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP); việc tống đạt ra nước ngoài thực hiện theo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự số 102/2025/QH15, chi tiết tại bài ly hôn có yếu tố nước ngoài.
3.2. Bị đơn đang chấp hành án phạt tù
Xét riêng trường hợp này, Điều 51 không loại trừ người đang chấp hành án, nên họ vẫn có thể bị khởi kiện ly hôn; ý kiến của bị đơn được ghi nhận bằng văn bản vì đương sự không được ủy quyền tham gia tố tụng trong việc ly hôn (khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự). Việc bị kết án tự nó không phải căn cứ ly hôn.
4. Ly hôn với người mất tích
Khác với trường hợp chỉ không rõ địa chỉ, ly hôn với người mất tích đi qua hai thủ tục nối tiếp. Theo khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên”, đã áp dụng đầy đủ biện pháp thông báo, tìm kiếm mà vẫn không có tin tức xác thực, người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố người đó mất tích. Khi quyết định có hiệu lực, “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.” (khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình).
Điều này có nghĩa rằng nguyên đơn không phải chứng minh hôn nhân trầm trọng; tuy nhiên, nếu bị đơn vẫn liên lạc với người thân, khởi kiện theo mục 3.1 có thể phù hợp hơn vì không phải chờ đủ 02 năm biệt tích.
5. Ly hôn khi vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự
Pháp luật không cấm ly hôn với người bệnh tâm thần, nhưng đặt ra cơ chế đại diện. Người “không thể nhận thức, làm chủ được hành vi” do bệnh tâm thần hoặc bệnh khác bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở “kết luận giám định pháp y tâm thần” (khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự).
5.1. Người vợ, chồng còn lại yêu cầu ly hôn
Vì vợ, chồng thường là người giám hộ của nhau, lợi ích hai bên xung đột trong vụ án ly hôn. Luật giải quyết như sau: “Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật Dân sự, Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn.” (khoản 3 Điều 24). Nếu chưa có quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, nguyên đơn nên yêu cầu giải quyết việc này trước.
5.2. Cha, mẹ, người thân đứng đơn thay người bệnh
Ở chiều ngược lại, khi người bệnh là nạn nhân, “Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.” (khoản 2 Điều 51). Căn cứ cho ly hôn trong trường hợp này hẹp hơn: phải có bạo lực gia đình gây ảnh hưởng nghiêm trọng (khoản 3 Điều 56).
6. Bảo vệ quyền lợi khi bị đơn chây ỳ
Sự vắng mặt kéo dài có thể đi kèm việc tẩu tán tài sản; nguyên đơn có các công cụ sau:
a) Đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ như sao kê tài khoản, hồ sơ đăng ký tài sản, thông tin cư trú khi tự mình không thu thập được (Điều 97, 106);
b) Yêu cầu biện pháp khẩn cấp tạm thời như buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng, giao con cho người trông nom, cấm chuyển dịch tài sản đang tranh chấp, phong tỏa tài khoản (Điều 111, 114); một số biện pháp đòi hỏi biện pháp bảo đảm (Điều 136);
c) Yêu cầu giải quyết đồng thời con chung và tài sản: bản án xét xử vắng mặt vẫn giải quyết các nội dung này; xem bài quyền nuôi con sau ly hôn và phân chia tài sản khi ly hôn.
7. Lưu ý
7.1. Chế tài, rủi ro
Không chứng minh được căn cứ tại khoản 1 Điều 56, yêu cầu ly hôn có thể bị bác và nguyên đơn vẫn chịu án phí sơ thẩm (điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14). Đơn của người chồng nộp trong thời gian bị hạn chế tại khoản 3 Điều 51 có thể bị trả lại. Nguyên đơn vắng mặt lần thứ hai có thể khiến vụ án bị đình chỉ.
7.2. Tác động theo nhóm chủ thể
Từ đây phát sinh những tác động khác nhau:
a) Đối với người khởi kiện: trọng tâm chuyển từ thuyết phục bên kia ký đơn sang chuẩn bị chứng cứ và xác định đúng nơi cư trú của bị đơn;
b) Đối với bị đơn: vắng mặt không ngăn được bản án nhưng làm mất cơ hội trình bày về con chung, tài sản; bị đơn vẫn có quyền kháng cáo;
c) Đối với gia đình người mất năng lực hành vi dân sự: có thể được chỉ định làm người đại diện hoặc tự đứng đơn khi người bệnh bị bạo lực.
7.3. Khuyến nghị của Luật 7S
Trên cơ sở đó, 7SLAW cho rằng trước khi nộp đơn, người khởi kiện nên lập hồ sơ chứng cứ theo từng điểm của Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, xác minh nơi cư trú hiện tại hoặc cuối cùng của bị đơn, và đánh giá nhu cầu biện pháp khẩn cấp tạm thời. Với người mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự, nên tách thủ tục tuyên bố khỏi vụ án ly hôn. Xem thêm dịch vụ luật sư ly hôn và tiện ích Tính án phí.
Ý kiến luật sư
“Bên kia không ký đơn không chặn được vụ án ly hôn; điều có thể làm vụ án dừng lại là hồ sơ không chứng minh được hôn nhân đã trầm trọng và một địa chỉ bị đơn ghi sai. Hai việc đó đều chuẩn bị được trước khi nộp đơn.” – Luật sư Nguyễn Hữu Hiệp, Giám đốc Công ty Luật TNHH 7S.
Để luật sư rà soát chứng cứ và địa chỉ bị đơn trước khi nộp đơn, có thể gọi 0877 523 888 hoặc nhắn Zalo cho Luật 7S.
8. Câu hỏi thường gặp
Dưới đây là những câu hỏi 7SLAW thường nhận được về ly hôn khi vợ, chồng không hợp tác.
a) Chồng không ký đơn ly hôn thì vợ có ly hôn được không?
Được. Người vợ nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân khu vực nơi người chồng cư trú; Tòa án xét căn cứ tại khoản 1 Điều 56, không phụ thuộc sự đồng ý của người chồng.
b) Có thể nhờ người khác ra Tòa thay mình không?
Không. Trong việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng; luật sư có thể tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
c) Vợ có thai với người khác thì chồng có được yêu cầu ly hôn không?
Không, trong thời gian vợ có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, vì giới hạn không phân biệt vợ có thai với ai (khoản 4 Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP). Nếu người vợ yêu cầu ly hôn thì Tòa án vẫn giải quyết.
d) Vợ chồng đã ly hôn muốn quay lại với nhau thì làm gì?
Hai người phải đăng ký kết hôn lại: “Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn.” (khoản 2 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình).
Tác giả: LS. Nguyễn Hữu Hiệp
9. Phụ lục căn cứ pháp luật
Để tiện tra cứu, các văn bản và điều khoản được dẫn trong bài được tổng hợp tại bảng sau.
| STT | Văn bản pháp luật | Căn cứ pháp lý |
|---|---|---|
| 1 | Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19/6/2014, hiệu lực 01/01/2015 (văn bản hợp nhất 121/VBHN-VPQH ngày 27/8/2025) | Khoản 2 Điều 9: “Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn.” Khoản 1 Điều 51: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.” Khoản 3 Điều 51: “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.” Khoản 2 Điều 56: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.” Khoản 3 Điều 24; khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 3 Điều 56: Nội dung được trình bày tại phần tương ứng của bài viết. |
| 2 | Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25/11/2015 (văn bản hợp nhất 99/VBHN-VPQH năm 2025); sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025, hiệu lực 01/7/2025 | Điểm a khoản 1 Điều 40: “Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;” Khoản 1 Điều 207: “Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.” Điểm b khoản 2 Điều 227: “Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt” mà không có người đại diện thì Tòa án xét xử vắng mặt họ Điều 39, 85, 97, 106, 111, 114, 136, 228: Nội dung được trình bày tại phần tương ứng của bài viết. |
| 3 | Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015, hiệu lực 01/01/2017 | Khoản 1 Điều 22: người “không thể nhận thức, làm chủ được hành vi” bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở “kết luận giám định pháp y tâm thần” Khoản 1 Điều 68: “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên”… Khoản 2 Điều 68: “Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn”… Điều 53: Nội dung được trình bày tại phần tương ứng của bài viết. |
| 4 | Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hiệu lực 01/7/2024 | Khoản 3 Điều 2: “Chồng không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tính từ ngày vợ sinh con” Khoản 4 Điều 2: “mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai.” Khoản 2 Điều 4: “là vi phạm quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng” Điều 10: “được coi là cố tình giấu địa chỉ” Khoản 1, 2, 5 Điều 2; khoản 1, 3 Điều 4: Nội dung được trình bày tại phần tương ứng của bài viết. |
| 5 | Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, hiệu lực 01/01/2017 | Điểm a khoản 5 Điều 27: Nội dung được trình bày tại phần tương ứng của bài viết. |
Bài viết cung cấp thông tin pháp luật tại thời điểm cập nhật, không thay thế ý kiến tư vấn cho từng trường hợp cụ thể; quy định có thể thay đổi sau ngày cập nhật.
Liên hệ Luật 7S: 0877 523 888 – lienhe@7slaw.vn
