Điều kiện IPO cho công ty công nghệ
Cập nhật: 23/10/2026
(Luat7s.com) – Từ ngày 01/01/2025, khi Luật số 56/2024/QH15 sửa đổi, bổ sung Luật Chứng khoán có hiệu lực, con đường từ vốn của nhà sáng lập đến sàn chứng khoán của một công ty công nghệ được đặt trong khung trách nhiệm chặt chẽ hơn đối với tổ chức phát hành và các bên liên quan. Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14 ngày 26/11/2019 phân định chào bán riêng lẻ với chào bán ra công chúng, đồng thời đặt điều kiện chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) tại Điều 15, trong đó có yêu cầu hoạt động kinh doanh 02 năm liền trước phải có lãi và không có lỗ lũy kế. Khung pháp lý này tiếp tục được hoàn thiện khi Nghị định số 245/2025/NĐ-CP ngày 11/9/2025 sửa đổi Nghị định số 155/2020/NĐ-CP, gắn IPO với niêm yết và rút ngắn thời hạn đưa cổ phiếu vào giao dịch. Đáng chú ý, rủi ro của công ty công nghệ khi gọi vốn không chỉ là chưa đủ điều kiện IPO, mà còn là việc mời góp vốn rộng rãi trên mạng bị coi là chào bán ra công chúng trái phép và việc công bố thông tin sai lệch, nơi cả doanh nghiệp lẫn người điều hành có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Những điểm chính
Theo quy định hiện hành, công ty công nghệ gọi vốn riêng lẻ không được chào bán qua phương tiện thông tin đại chúng; IPO cần vốn điều lệ đã góp từ 30 tỷ đồng, 02 năm liền trước có lãi, không lỗ lũy kế (Điều 15 Luật Chứng khoán). Công bố thông tin sai lệch có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự của cả pháp nhân.
Để tiện theo dõi, bảng dưới đây tóm tắt các chặng vốn của một công ty công nghệ, phần mềm và chế độ pháp lý tương ứng; từng nội dung được phân tích ở các mục tiếp theo.
| Chặng vốn | Công cụ thường dùng | Chế độ pháp lý chính | Rủi ro cần kiểm soát |
|---|---|---|---|
| Vốn nhà sáng lập | Góp tiền, góp quyền đối với mã nguồn, thỏa thuận sáng lập | Pháp luật doanh nghiệp; Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ | Mã nguồn chưa thuộc công ty; không có cơ chế xử lý cổ phần khi một người rời đi |
| Gọi vốn riêng lẻ | Cổ phần ưu đãi, khoản đầu tư chuyển đổi, ESOP, thỏa thuận cổ đông | Pháp luật doanh nghiệp; khoản 19, 20 Điều 4 Luật Chứng khoán; pháp luật đầu tư | Mời góp vốn rộng rãi trên mạng bị coi là chào bán ra công chúng |
| IPO và niêm yết | Bản cáo bạch, hồ sơ đăng ký chào bán, hồ sơ niêm yết | Điều 15, Điều 16 Luật Chứng khoán; Nghị định 155/2020/NĐ-CP sửa đổi bởi Nghị định 245/2025/NĐ-CP | Chưa đáp ứng điều kiện lợi nhuận; hồ sơ thẩm định pháp lý chưa sạch |
| Gọi vốn quốc tế | Công ty mẹ ở nước ngoài nắm giữ công ty Việt Nam | Pháp luật đầu tư ra nước ngoài, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam | Tái cấu trúc muộn, chi phí chuyển tài sản trí tuệ và chuyển nhượng vốn |
| Công bố thông tin | Tài liệu gọi vốn, bản cáo bạch, báo cáo định kỳ | Khoản 1 Điều 12 Luật Chứng khoán; Điều 76, 209–211 Bộ luật Hình sự | Trách nhiệm hình sự của cả pháp nhân thương mại và cá nhân |
1. Ba chặng của lộ trình vốn
Điểm xuất phát là bản chất tài sản của một công ty công nghệ, phần mềm: giá trị doanh nghiệp nằm chủ yếu ở mã nguồn, dữ liệu, hợp đồng với khách hàng và đội ngũ, không phải ở nhà xưởng hay máy móc. Vì vậy, mỗi vòng gọi vốn thực chất là một lần nhà đầu tư kiểm tra xem doanh nghiệp có thực sự nắm giữ những tài sản vô hình đó hay không.
Về mặt pháp lý, dòng vốn đi qua ba chặng với ba chế độ khác nhau:
a) Chặng nhà sáng lập, chịu điều chỉnh chủ yếu của pháp luật doanh nghiệp và pháp luật sở hữu trí tuệ: ai góp gì, mã nguồn viết trước khi thành lập công ty đã được chuyển giao hay góp vốn chưa, cổ phần của người rời đi được xử lý thế nào;
b) Chặng gọi vốn riêng lẻ từ nhà đầu tư thiên thần, quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư chiến lược, nơi pháp luật doanh nghiệp, pháp luật đầu tư và ranh giới chào bán chứng khoán của Luật Chứng khoán cùng áp dụng;
c) Chặng IPO và niêm yết, khi doanh nghiệp trở thành công ty đại chúng và chịu toàn bộ nghĩa vụ công bố thông tin, quản trị và trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực chứng khoán.
Điều cần lưu ý là sai sót ở chặng trước thường chỉ lộ ra ở chặng sau, khi tổ chức tư vấn hoặc nhà đầu tư lớn yêu cầu chứng minh chuỗi quyền sở hữu và lịch sử tăng vốn. Bức tranh tổng quan về các rủi ro pháp lý khác của dự án công nghệ được trình bày tại bài pháp lý dự án công nghệ, AI, blockchain, IPO và checklist.
2. Chào bán riêng lẻ và ra công chúng
Vấn đề đặt ra với nhiều công ty khởi nghiệp là thói quen gọi vốn qua cộng đồng: đăng bài trên mạng xã hội, mở nhóm “nhà đầu tư sớm”, livestream giới thiệu dự án hoặc mời người dùng ứng dụng “mua cổ phần ưu đãi”. Về mặt pháp lý, Luật Chứng khoán không xác định chào bán ra công chúng theo cách doanh nghiệp tự gọi tên giao dịch, mà theo phương thức chào bán. Khoản 19 Điều 4 Luật Chứng khoán quy định:
“19. Chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán chứng khoán theo một trong các phương thức sau đây:
a) Chào bán thông qua phương tiện thông tin đại chúng;
b) Chào bán cho từ 100 nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp;
c) Chào bán cho các nhà đầu tư không xác định.”
Đối chiếu với đó, khoản 20 Điều 4 Luật Chứng khoán định nghĩa chào bán riêng lẻ theo cách loại trừ:
“20. Chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc chào bán chứng khoán không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 19 Điều này và theo một trong các phương thức sau đây:
a) Chào bán cho dưới 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp;
b) Chỉ chào bán cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp.”
Quy định này cho thấy một điểm thường bị bỏ qua: chỉ cần chào bán qua phương tiện thông tin đại chúng, giao dịch đã nằm ngoài phạm vi chào bán riêng lẻ, dù số người thực sự mua cổ phần có thể rất ít. Nói cách khác, một bài đăng công khai kêu gọi góp vốn, một chiến dịch quảng cáo “mua cổ phần sớm” trên ứng dụng hay một nhóm mở cho bất kỳ ai tham gia đều có thể bị xem là chào bán ra công chúng.
Hệ quả là doanh nghiệp phải đăng ký trước với cơ quan quản lý. Khoản 1 Điều 16 Luật Chứng khoán quy định: “1. Tổ chức phát hành, cổ đông công ty đại chúng trước khi chào bán chứng khoán ra công chúng phải đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.” Một công ty khởi nghiệp chưa đáp ứng điều kiện tại Điều 15 thì cũng không thể đăng ký, và việc chào bán khi chưa đăng ký là vi phạm pháp luật chứng khoán.
Trên cơ sở đó, gọi vốn riêng lẻ an toàn thường có ba đặc điểm: danh sách nhà đầu tư được xác định trước và tiếp cận trực tiếp; tài liệu giới thiệu chỉ gửi cho người đã ký cam kết bảo mật; số lượng nhà đầu tư không chuyên nghiệp được kiểm soát dưới ngưỡng luật định. Khi nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân nước ngoài, doanh nghiệp còn phải hoàn tất thủ tục góp vốn, mua cổ phần theo pháp luật đầu tư.
3. ESOP, đầu tư chuyển đổi, cổ đông
Xét riêng về công cụ gọi vốn, công ty công nghệ thường dùng các cấu trúc phổ biến trong cộng đồng khởi nghiệp quốc tế. Điểm cần lưu ý là pháp luật Việt Nam chưa ghi nhận riêng nhiều cấu trúc trong số đó, nên từng công cụ phải được “dịch” sang một hình thức mà pháp luật doanh nghiệp và pháp luật chứng khoán thừa nhận:
a) Quyền chọn mua cổ phần cho người lao động (ESOP): cần quy chế bằng văn bản về đối tượng, số lượng, giá, thời gian gắn bó và hạn chế chuyển nhượng, được cơ quan có thẩm quyền của công ty thông qua theo Điều lệ; lời hứa “chia cổ phần” bằng tin nhắn hoặc email dễ trở thành tranh chấp khi doanh nghiệp chốt danh sách cổ đông trước IPO. Doanh nghiệp có nhiều nhân sự cũng nên đối chiếu số người được chào bán với ngưỡng 100 nhà đầu tư tại khoản 19 Điều 4 Luật Chứng khoán;
b) Khoản đầu tư chuyển đổi: các mẫu thỏa thuận đầu tư trước, chuyển thành cổ phần ở vòng sau nên được cấu trúc dưới hình thức pháp luật Việt Nam ghi nhận, kèm phương án tăng vốn điều lệ tương ứng; khi bên đầu tư ở nước ngoài, cần xem xét thêm các quy định về vay nước ngoài và quản lý ngoại hối;
c) Thỏa thuận cổ đông: quyền ưu tiên mua, chống pha loãng, phủ quyết, bán kèm, kéo theo, mua lại cần được phản ánh vào Điều lệ để có giá trị đối với công ty; một số quyền đặc biệt có thể không còn phù hợp khi doanh nghiệp trở thành công ty đại chúng, vì vậy nên có lộ trình điều chỉnh hoặc chấm dứt trước khi nộp hồ sơ IPO.
Từ góc độ triển khai, một lần phát hành không đúng thủ tục ở vòng hạt giống có thể buộc doanh nghiệp xử lý lại nhiều năm sau. Doanh nghiệp chưa có bộ phận pháp chế có thể cân nhắc tư vấn pháp luật doanh nghiệp thường xuyên để chuẩn hóa hồ sơ từ các vòng đầu.
4. Điều kiện IPO theo Điều 15 Luật Chứng khoán
Tiếp đến, khi doanh nghiệp muốn huy động vốn từ công chúng, điều kiện được quy định tập trung tại khoản 1 Điều 15 Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14, hiệu lực từ 01/01/2021, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 56/2024/QH15 ngày 29/11/2024, hiệu lực từ 01/01/2025:
“1. Điều kiện chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng của công ty cổ phần bao gồm:
a) Mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ 30 tỷ đồng trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
b) Hoạt động kinh doanh của 02 năm liên tục liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán;
c) Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán cổ phiếu được Đại hội đồng cổ đông thông qua;
d) Tối thiểu là 15% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành phải được bán cho ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn; trường hợp vốn điều lệ của tổ chức phát hành từ 1.000 tỷ đồng trở lên, tỷ lệ tối thiểu là 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành;
đ) Cổ đông lớn trước thời điểm chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng của tổ chức phát hành phải cam kết cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% vốn điều lệ của tổ chức phát hành tối thiểu là 01 năm kể từ ngày kết thúc đợt chào bán;
e) Tổ chức phát hành không thuộc trường hợp đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án về một trong các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà chưa được xóa án tích;
g) Có công ty chứng khoán tư vấn hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng, trừ trường hợp tổ chức phát hành là công ty chứng khoán;
h) Có cam kết và phải thực hiện niêm yết hoặc đăng ký giao dịch cổ phiếu trên hệ thống giao dịch chứng khoán sau khi kết thúc đợt chào bán;
i) Tổ chức phát hành phải mở tài khoản phong tỏa nhận tiền mua cổ phiếu của đợt chào bán.”
Nói cách khác, IPO không chỉ là bài toán quy mô vốn. Điểm a đòi hỏi vốn điều lệ đã thực góp và phản ánh trên sổ kế toán; điểm d buộc cơ cấu cổ đông sau chào bán phải phân tán; điểm đ giữ chân các cổ đông lớn ít nhất 01 năm; còn điểm e gắn điều kiện IPO với lịch sử pháp lý hình sự của chính pháp nhân phát hành.
Khung pháp lý này tiếp tục được hoàn thiện khi Nghị định số 245/2025/NĐ-CP ngày 11/9/2025, hiệu lực từ ngày ký, sửa đổi Nghị định số 155/2020/NĐ-CP, cho phép Sở Giao dịch chứng khoán xem xét hồ sơ niêm yết đồng thời với quá trình Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xem xét hồ sơ IPO, và rút ngắn thời hạn đưa cổ phiếu vào giao dịch còn 30 ngày. Đồng thời, ngày 17/10/2026, Chính phủ đã trình Quốc hội dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI; doanh nghiệp đang lập lộ trình IPO nên theo dõi nội dung được thông qua để điều chỉnh kế hoạch.
5. Công ty đang lỗ và công ty mẹ nước ngoài
Câu hỏi cần giải quyết là vì sao nhiều công ty công nghệ có doanh thu tăng nhanh vẫn chưa thể IPO trong nước. Về bản chất, mô hình tăng trưởng của công ty công nghệ thường chấp nhận lỗ nhiều năm để mở rộng người dùng và thị phần. Trong khi đó, điểm b khoản 1 Điều 15 đòi hỏi đồng thời hai điều kiện: có lãi trong 02 năm liên tục liền trước và không còn lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán. Doanh nghiệp vừa có lãi nhưng còn lỗ lũy kế từ giai đoạn đầu tư vì vậy chưa đáp ứng điều kiện này.
Trên thực tế, doanh nghiệp thường cân nhắc hai hướng:
a) Tiếp tục gọi vốn riêng lẻ trong nước cho đến khi đạt điều kiện lợi nhuận, đồng thời chuẩn hóa hồ sơ pháp lý để sẵn sàng khi đủ điều kiện;
b) Thiết lập công ty mẹ ở nước ngoài, phổ biến là Singapore hoặc Hoa Kỳ, nắm giữ công ty tại Việt Nam để gọi vốn từ quỹ quốc tế theo chuẩn mực của thị trường đó.
Tuy nhiên, phương án công ty mẹ ở nước ngoài kéo theo nhiều thủ tục: nhà sáng lập Việt Nam thực hiện thủ tục đầu tư ra nước ngoài; công ty mẹ góp vốn hoặc mua lại phần vốn của công ty Việt Nam theo pháp luật đầu tư; quyền đối với mã nguồn, nhãn hiệu, dữ liệu phải được xác định rõ thuộc pháp nhân nào, chuyển giao hay cấp phép sử dụng. Hệ quả là lựa chọn này nên được quyết định sớm. Khi doanh nghiệp đã có định giá cao, việc chuyển tài sản trí tuệ và chuyển nhượng vốn có thể phát sinh chi phí, nghĩa vụ thuế và thủ tục lớn hơn đáng kể. Doanh nghiệp đang cân nhắc thị trường Hoa Kỳ có thể tham khảo bài phân tích nên thành lập LLC hay C Corporation tại Mỹ.
6. Thẩm định pháp lý trước IPO
Ở góc độ hồ sơ, công ty phát triển phần mềm và gia công phần mềm thường bị tổ chức tư vấn và nhà đầu tư kiểm tra kỹ ở bốn nhóm vấn đề dưới đây.
6.1. Quyền đối với mã nguồn và sản phẩm lõi
Trước hết, doanh nghiệp phải chứng minh được mình là chủ sở hữu quyền tài sản đối với phần mềm đang khai thác. Khoản 1 và khoản 2 Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ quy định:
“1. Tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả là người thuộc tổ chức mình là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Điều này có nghĩa rằng cụm “trừ trường hợp có thỏa thuận khác” là nơi rủi ro tập trung. Hồ sơ thẩm định thường yêu cầu đối chiếu hợp đồng lao động, hợp đồng cộng tác viên, hợp đồng gia công, văn bản chuyển giao phần mã do nhà sáng lập viết trước khi thành lập công ty, cùng danh mục thư viện mã nguồn mở và giấy phép tương ứng.
6.2. Hợp đồng với khách hàng lớn
Đối với công ty gia công phần mềm, doanh thu thường phụ thuộc vào một số khách hàng lớn, nhiều trường hợp ở nước ngoài. Các điều khoản cần rà soát gồm: quyền chấm dứt khi công ty thay đổi quyền kiểm soát, vốn có thể bị kích hoạt bởi chính đợt IPO; giới hạn trách nhiệm và bồi thường; cam kết bảo mật, độc quyền, không cạnh tranh; và quyền đối với kết quả gia công, để tách rõ phần thuộc khách hàng với phần tài sản nền doanh nghiệp được giữ lại để tái sử dụng.
6.3. Ghi nhận doanh thu
Về mặt tài chính, doanh thu dự án theo tiến độ, doanh thu thuê bao và khoản tiền khách hàng trả trước có cách ghi nhận khác nhau. Điểm cần lưu ý là cách ghi nhận phải nhất quán với điều khoản nghiệm thu, thanh toán trong hợp đồng; khi hai bên lệch nhau, kết quả kinh doanh dùng để chứng minh điều kiện tại điểm b khoản 1 Điều 15 có thể bị đặt câu hỏi.
6.4. Tuân thủ dữ liệu
Cuối cùng, công ty xử lý dữ liệu cho khách hàng hoặc gửi dữ liệu người dùng ra nước ngoài phải chứng minh tuân thủ Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 ngày 26/6/2025, hiệu lực từ 01/01/2026, đặc biệt là hồ sơ đánh giá tác động và hồ sơ chuyển dữ liệu xuyên biên giới. Với sản phẩm có tích hợp AI, nội dung này được phân tích chi tiết tại bài pháp lý dự án AI tại Việt Nam.
7. Rủi ro hình sự trong chứng khoán
Ở chặng IPO, chuẩn mực trách nhiệm thay đổi về chất. Khoản 1 Điều 12 Luật Chứng khoán nghiêm cấm hành vi: “Trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện hành vi gian lận, lừa đảo, làm giả tài liệu, tạo dựng thông tin sai sự thật hoặc công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin hoặc bỏ sót thông tin cần thiết gây hiểu nhầm nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến hoạt động chào bán, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứng khoán, cung cấp dịch vụ về chứng khoán.”
Khi hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015, hiệu lực từ 01/01/2018, được sửa đổi bởi Luật số 12/2017/QH14, quy định các tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán (Điều 209), sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán (Điều 210) và thao túng thị trường chứng khoán (Điều 211). Điểm khác biệt so với nhiều tội danh trong lĩnh vực công nghệ là cả ba tội này đều nằm trong danh sách tội mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. Điều 76 Bộ luật Hình sự quy định:
“Pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225, 226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245, 246, 300 và 324 của Bộ luật này.”
Hệ quả là một bản cáo bạch nêu số người dùng hoạt động, doanh thu định kỳ hay năng lực công nghệ không có hồ sơ chứng minh có thể khiến cả công ty và người ký, người chỉ đạo lập hồ sơ cùng bị xem xét trách nhiệm hình sự. Đáng chú ý, điểm e khoản 1 Điều 15 Luật Chứng khoán còn tạo ra một vòng liên kết: pháp nhân đang bị truy cứu hoặc đã bị kết án về tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà chưa được xóa án tích thì không đủ điều kiện IPO. Một vụ việc về quyền tác giả phần mềm (Điều 225) phát sinh nhiều năm trước vì vậy có thể trở thành rào cản ở chặng lên sàn. Phân tích đầy đủ về trách nhiệm hình sự của doanh nghiệp và người điều hành được trình bày tại bài trách nhiệm hình sự, hành chính trong dự án công nghệ.
8. Đánh giá tác động
N.1. Chế tài và rủi ro pháp lý
Về bản chất, rủi ro gọi vốn của công ty công nghệ tăng dần theo từng chặng: ở chặng riêng lẻ là nguy cơ bị coi là chào bán ra công chúng khi chưa đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; ở chặng IPO là nguy cơ không đáp ứng điều kiện hoặc hồ sơ bị yêu cầu xử lý lại; ở chặng công ty đại chúng là trách nhiệm hình sự của cả pháp nhân thương mại và cá nhân theo Điều 76, Điều 209–211 Bộ luật Hình sự.
N.2. Tác động theo nhóm chủ thể
Từ đây phát sinh các tác động khác nhau với từng nhóm:
a) Nhà sáng lập công ty khởi nghiệp: cần kiểm soát kênh gọi vốn, không đăng bài công khai mời góp vốn, và chuẩn hóa ESOP, khoản đầu tư chuyển đổi bằng văn bản ngay từ vòng đầu;
b) Công ty phần mềm, gia công phần mềm có kế hoạch IPO: cần rà điều khoản thay đổi quyền kiểm soát trong hợp đồng khách hàng lớn, chính sách ghi nhận doanh thu và chuỗi quyền sở hữu mã nguồn trước khi chọn công ty chứng khoán tư vấn;
c) Quỹ đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài: cần đánh giá quyền đặc biệt trong thỏa thuận cổ đông sẽ được duy trì đến đâu sau IPO, và thời điểm phù hợp để chuyển sang cấu trúc công ty mẹ ở nước ngoài nếu kế hoạch thoái vốn hướng tới thị trường quốc tế.
N.3. Khuyến nghị
Trên cơ sở đó, 7SLAW cho rằng công ty công nghệ nên lập lộ trình vốn bằng văn bản ngay khi gọi vốn vòng đầu, xác định rõ đích đến là IPO trong nước hay gọi vốn quốc tế, vì lựa chọn này quyết định cấu trúc pháp nhân, nơi nắm giữ tài sản trí tuệ và cách thiết kế từng công cụ vốn. Luật 7S khuyến nghị doanh nghiệp tổ chức một đợt thẩm định pháp lý nội bộ trước khi làm việc với công ty chứng khoán tư vấn, đối chiếu từng điều kiện tại khoản 1 Điều 15 với hồ sơ thực tế, và thiết lập quy trình kiểm chứng mọi số liệu đưa vào tài liệu gọi vốn.
“Với công ty công nghệ, bản cáo bạch là nơi những con số về người dùng, doanh thu định kỳ và năng lực sản phẩm chuyển từ ngôn ngữ thuyết trình thành cam kết có hệ quả pháp lý. Con số nào chưa có hồ sơ chứng minh thì chưa nên xuất hiện trong bất kỳ tài liệu gọi vốn nào.”
Luật sư Nguyễn Hữu Hiệp
9. Tình huống minh họa
Để minh họa cách áp dụng các quy định về gọi vốn và IPO, dưới đây là ba tình huống giả định thường gặp.
a) Một công ty cổ phần phát triển ứng dụng tài chính cá nhân đăng thông báo trong ứng dụng, mời người dùng “mua cổ phần sớm với giá ưu đãi”. Chỉ khoảng 40 người đăng ký mua. Vấn đề đặt ra là việc chào bán đã diễn ra qua phương tiện thông tin đại chúng tới nhà đầu tư không xác định, nên có thể thuộc điểm a, điểm c khoản 19 Điều 4 Luật Chứng khoán, dù số người mua dưới 100. Phương án phù hợp là dừng chào bán, rà soát các giao dịch đã phát sinh và chuyển sang chào bán riêng lẻ cho danh sách nhà đầu tư xác định.
b) Một công ty gia công phần mềm có vốn điều lệ đã góp 80 tỷ đồng, lãi trong hai năm gần nhất nhưng còn lỗ lũy kế từ giai đoạn đầu. Theo điểm b khoản 1 Điều 15, doanh nghiệp chưa đủ điều kiện IPO cho đến khi khoản lỗ lũy kế được bù đắp. Doanh nghiệp nên dùng giai đoạn chờ để chuẩn hóa ghi nhận doanh thu và chuỗi quyền sở hữu mã nguồn.
c) Một nền tảng giáo dục trực tuyến đã gọi vốn ba vòng từ quỹ nước ngoài, nay quỹ đề nghị lập công ty mẹ tại Singapore. Từ đây phát sinh các việc cần làm: thủ tục đầu tư ra nước ngoài của nhà sáng lập, thủ tục công ty mẹ nhận chuyển nhượng vốn tại Việt Nam, xác định pháp nhân nắm giữ mã nguồn và nhãn hiệu, và xử lý quyền của các cổ đông hiện hữu theo thỏa thuận cổ đông đã ký.
10. Câu hỏi thường gặp
Dưới đây là những câu hỏi 7SLAW thường nhận được từ doanh nghiệp công nghệ về gọi vốn và IPO.
a) Gọi vốn dưới 100 người có mặc nhiên được coi là chào bán riêng lẻ không?
Không. Theo khoản 20 Điều 4 Luật Chứng khoán, chào bán riêng lẻ trước hết phải không thông qua phương tiện thông tin đại chúng. Một đợt chào bán công khai trên mạng có thể bị coi là chào bán ra công chúng dù số người mua ít.
b) Công ty công nghệ đang lỗ có IPO tại Việt Nam được không?
Chưa, nếu chưa đáp ứng điểm b khoản 1 Điều 15 Luật Chứng khoán: hoạt động kinh doanh 02 năm liên tục liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi và không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán.
c) Sau khi IPO, cổ đông sáng lập có được bán ngay cổ phần không?
Theo điểm đ khoản 1 Điều 15, cổ đông lớn trước thời điểm IPO phải cam kết cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% vốn điều lệ tối thiểu 01 năm kể từ ngày kết thúc đợt chào bán. Phần cổ phần còn lại cần đối chiếu thêm với cam kết riêng và quy định về giao dịch của cổ đông nội bộ.
d) Doanh nghiệp bị phạt về sử dụng phần mềm không bản quyền có ảnh hưởng tới IPO không?
Xử phạt hành chính không thuộc điểm e khoản 1 Điều 15. Tuy nhiên, nếu pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 225 Bộ luật Hình sự) thì có thể rơi vào trường hợp không đủ điều kiện IPO cho đến khi được xóa án tích.
Tác giả: 7S Corporate Desk
Phụ lục căn cứ pháp luật
Để tiện tra cứu, các văn bản và điều khoản được dẫn trong bài được tổng hợp tại bảng sau.
| STT | Văn bản pháp luật | Căn cứ pháp lý |
|---|---|---|
| 1 | Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14 ngày 26/11/2019, hiệu lực 01/01/2021 (văn bản hợp nhất số 24/VBHN-VPQH ngày 26/02/2025) | Khoản 19, 20 Điều 4: “Chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán chứng khoán theo một trong các phương thức sau đây: a) Chào bán thông qua phương tiện thông tin đại chúng;…”; Khoản 1 Điều 12: Nội dung được trình bày tại phần tương ứng của bài viết; Khoản 1 Điều 15: “b) Hoạt động kinh doanh của 02 năm liên tục liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán;”; Khoản 1 Điều 16: “Tổ chức phát hành, cổ đông công ty đại chúng trước khi chào bán chứng khoán ra công chúng phải đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước…” |
| 2 | Luật số 56/2024/QH15 ngày 29/11/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán và các luật khác, hiệu lực 01/01/2025 | Sửa đổi, bổ sung Luật Chứng khoán: Nội dung được trình bày tại phần tương ứng của bài viết. |
| 3 | Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020, sửa đổi bởi Nghị định số 245/2025/NĐ-CP ngày 11/9/2025, hiệu lực 11/9/2025 | Niêm yết đồng thời với IPO, thời hạn đưa cổ phiếu vào giao dịch: Nội dung được trình bày tại phần tương ứng của bài viết. |
| 4 | Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015, hiệu lực 01/01/2018, sửa đổi bởi Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 86/2025/QH15 | Điều 76: “Pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225, 226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245, 246, 300 và 324 của Bộ luật này.”; Điều 209, 210, 211, 225: Nội dung được trình bày tại phần tương ứng của bài viết. |
| 5 | Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11, sửa đổi bởi Luật số 131/2025/QH15 ngày 10/12/2025, hiệu lực 01/4/2026 | Khoản 1, 2 Điều 39: “Tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.” |
| 6 | Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 ngày 26/6/2025, hiệu lực 01/01/2026 | Đánh giá tác động, chuyển dữ liệu xuyên biên giới: Nội dung được trình bày tại phần tương ứng của bài viết. |
Bài viết cung cấp thông tin pháp luật tại thời điểm cập nhật, không thay thế ý kiến tư vấn cho từng trường hợp cụ thể; quy định có thể thay đổi sau ngày cập nhật.
Liên hệ Luật 7S: 0877 523 888 – lienhe@7slaw.vn



