Giấy triệu tập của cơ quan điều tra: không đến có bị dẫn giải không?
Cập nhật: 22/10/2026
(Luat7s.com) – Nhận giấy triệu tập của cơ quan điều tra mà không đến, người làm chứng và bị can có thể bị dẫn giải, áp giải; người bị tố giác chỉ bị dẫn giải khi đủ điều kiện luật định. Bài viết giúp anh chị xác định mình được triệu tập với tư cách gì, hậu quả khi vắng mặt và khi nào nên có luật sư đi cùng.
Những điểm chính của quy định
Theo Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 (đã sửa đổi, bổ sung, hiện hành tại ngày cập nhật), người làm chứng cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, gây trở ngại cho việc giải quyết vụ việc, có thể bị dẫn giải (điểm a khoản 4 Điều 66, điểm a khoản 2 Điều 127). Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố chỉ bị dẫn giải khi đã có căn cứ xác định họ liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án và đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt (điểm c khoản 2 Điều 127). Bị can vắng mặt hoặc có biểu hiện trốn tránh có thể bị áp giải (khoản 3 Điều 182). Không được bắt đầu dẫn giải vào ban đêm (khoản 6 Điều 127).
Để tiện theo dõi, bảng dưới đây tóm tắt nghĩa vụ có mặt và hậu quả khi vắng mặt theo từng tư cách tham gia tố tụng.
| Tư cách | Nghĩa vụ có mặt | Hậu quả khi vắng mặt không có lý do theo luật | Căn cứ |
|---|---|---|---|
| Người làm chứng | Có mặt theo giấy triệu tập | Có thể bị dẫn giải nếu cố ý vắng mặt và gây trở ngại cho việc giải quyết vụ việc | Điểm a khoản 4 Điều 66; điểm a khoản 2 Điều 127 |
| Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố | Có mặt theo yêu cầu của cơ quan giải quyết tố giác, kiến nghị khởi tố | Có thể bị dẫn giải khi đủ ba điều kiện: có căn cứ liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án, đã được triệu tập, vẫn vắng mặt | Khoản 2 Điều 57; điểm c khoản 2 Điều 127 |
| Bị hại | Có mặt theo giấy triệu tập | Điểm a khoản 4 Điều 62 nêu có thể bị dẫn giải; Điều 127 chỉ liệt kê trường hợp bị hại từ chối giám định | Điểm a khoản 4 Điều 62; điểm b khoản 2 Điều 127 |
| Bị can | Có mặt theo giấy triệu tập | Có thể bị áp giải khi vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, hoặc khi có biểu hiện trốn tránh | Khoản 3 Điều 182 |
1. Giấy triệu tập của cơ quan điều tra là gì, phải ghi những nội dung nào
Trước hết, giấy triệu tập là văn bản tố tụng do Điều tra viên, Kiểm sát viên hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gửi cho người tham gia tố tụng để yêu cầu họ có mặt. Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cụ thể nội dung của giấy triệu tập, nên người nhận có thể đối chiếu để biết giấy đó có hợp lệ và mình được gọi với tư cách gì.
Cụ thể, khoản 2 Điều 185 quy định giấy triệu tập người làm chứng phải ghi rõ “họ tên, chỗ ở hoặc nơi làm việc, học tập của người làm chứng; giờ, ngày, tháng, năm và địa điểm có mặt; mục đích và nội dung làm việc, thời gian làm việc; gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.” Giấy triệu tập bị can cũng phải ghi giờ, ngày, địa điểm có mặt, thời gian làm việc, gặp ai và trách nhiệm khi vắng mặt (khoản 1 Điều 182).
Về cách giao, giấy triệu tập người làm chứng được giao trực tiếp hoặc thông qua Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, cơ quan, tổ chức nơi làm việc, học tập, và “Trong mọi trường hợp, việc giao giấy triệu tập phải được ký nhận.” (điểm a khoản 3 Điều 185). Giấy triệu tập người làm chứng dưới 18 tuổi được giao cho cha, mẹ hoặc người đại diện khác (điểm b khoản 3 Điều 185). Từ ngày 01/7/2025, Luật số 99/2025/QH15 sửa điểm d khoản 1 Điều 137, mở rộng phương thức thông báo văn bản tố tụng trên phương tiện thông tin đại chúng sang nền tảng số, phần mềm ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, cổng thông tin hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan tiến hành tố tụng. Riêng giấy triệu tập người làm chứng vẫn phải được giao và ký nhận (khoản 3 Điều 185). Nếu chỉ nhận “giấy triệu tập” qua tin nhắn hoặc mạng xã hội, anh chị nên gọi số điện thoại công khai của cơ quan có tên trên giấy để xác minh.
Trên thực tế, nhiều người nhận “giấy mời” thay vì “giấy triệu tập”, nhất là ở giai đoạn cơ quan Công an kiểm tra, xác minh tin báo. Bộ luật Tố tụng hình sự dùng thuật ngữ giấy triệu tập; còn với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, khoản 2 Điều 57 quy định họ “phải có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, kiến nghị khởi tố.” Vì vậy, dù văn bản mang tên gì, anh chị nên xác định nội dung làm việc và tư cách của mình trước khi quyết định cách ứng xử. Bài bị công an mời làm việc phải làm gì hướng dẫn các bước chuẩn bị cho buổi làm việc.
2. Không đến theo giấy triệu tập có bị dẫn giải không
Câu trả lời phụ thuộc vào tư cách của người được triệu tập. Dẫn giải là biện pháp cưỡng chế; khoản 2 Điều 127 liệt kê người làm chứng, bị hại từ chối giám định và người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Riêng bị hại, điểm a khoản 4 Điều 62 cũng nêu khả năng bị dẫn giải khi cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan (xem bảng đầu bài).
2.1. Người làm chứng
Điểm a khoản 4 Điều 66 quy định người làm chứng có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập. “Trường hợp cố ý vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải”. Như vậy, việc dẫn giải người làm chứng đòi hỏi đồng thời yếu tố cố ý, không có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, và gây trở ngại cho việc giải quyết vụ việc.
2.2. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố
Đối với nhóm này, điểm c khoản 2 Điều 127 cho phép dẫn giải người “mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án, đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.” Theo câu chữ của điều luật, cần có đủ ba điều kiện. Dù vậy, người bị tố giác vẫn có nghĩa vụ có mặt theo yêu cầu (khoản 2 Điều 57); không đến thường khiến cơ quan điều tra không ghi nhận được lời trình bày của chính mình, bất lợi hơn là có lợi.
2.3. Bị can
Bị can phải có mặt theo giấy triệu tập. Khoản 3 Điều 182 quy định trường hợp bị can vắng mặt không có lý do theo luật hoặc có biểu hiện trốn tránh thì Điều tra viên có thể ra quyết định áp giải. Áp giải chỉ áp dụng với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và người bị buộc tội (khoản 1 Điều 127).
2.4. Giới hạn khi dẫn giải
Quyết định áp giải, dẫn giải do Điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hoặc Hội đồng xét xử ban hành (khoản 3 Điều 127). Người thi hành phải đọc, giải thích quyết định và lập biên bản (khoản 5 Điều 127). Đặc biệt, khoản 6 Điều 127 quy định: “Không được bắt đầu việc áp giải, dẫn giải người vào ban đêm; không được áp giải, dẫn giải người già yếu, người bị bệnh nặng có xác nhận của cơ quan y tế.”
Vừa nhận giấy triệu tập và chưa rõ mình đang ở tư cách nào?
Công ty Luật TNHH 7S xem giấy triệu tập, xác định rủi ro và đi cùng anh chị đến buổi làm việc khi cần.
Gọi 0877 523 888 Gửi yêu cầu tư vấn Xem dịch vụ luật sư hình sự
3. Khi nào được vắng mặt và cần làm gì
Các điều luật nêu trên đều chỉ loại trừ hậu quả khi việc vắng mặt là do “lý do bất khả kháng” hoặc “trở ngại khách quan”, chẳng hạn ốm đau phải điều trị, thiên tai, đang ở xa không thể về kịp. Bộ luật không đặt ra mẫu thông báo vắng mặt; tuy nhiên, theo kinh nghiệm hành nghề của Luật 7S, anh chị nên:
a) Liên hệ ngay người có tên trên giấy triệu tập để báo lý do và đề nghị thời gian khác;
b) Gửi văn bản giải trình kèm tài liệu chứng minh (giấy ra viện, xác nhận của cơ sở y tế, vé đi lại…) và giữ bằng chứng đã gửi;
c) Có mặt theo lịch hẹn lại; không im lặng bỏ qua giấy triệu tập.
Bận công việc, đi công tác đã lên lịch hay chưa chuẩn bị tâm lý thường không được coi là bất khả kháng. Trong những trường hợp này, nên chủ động đề nghị dời lịch trước ngày làm việc thay vì tự ý vắng mặt.
4. Quyền có luật sư và khi nào nên có luật sư đi cùng
Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.” Ngay ở giai đoạn trước khởi tố, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền “Tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình” (điểm e khoản 1 Điều 57). Người bảo vệ có thể là luật sư và được “Có mặt khi lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố” (điểm c khoản 3 Điều 83).
Không phải giấy triệu tập nào cũng cần luật sư. Theo đánh giá của Luật 7S, anh chị nên có luật sư khi: giấy triệu tập không ghi rõ tư cách hoặc nội dung làm việc; nội dung liên quan đến dòng tiền, hợp đồng, hóa đơn, hoạt động của doanh nghiệp mà mình là người quản lý; đã được triệu tập nhiều lần về cùng một việc; hoặc có dấu hiệu chuyển từ người làm chứng sang người bị tố giác. Khi người thân đã bị tạm giữ, xem thêm bài 7 việc cần làm trong 72 giờ đầu khi người thân bị tạm giữ.
5. Từ chối khai báo có bị xử lý hình sự không
Có mặt là một nghĩa vụ, khai báo là nghĩa vụ khác. Điều 383 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 quy định tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định, định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu; chủ thể gồm người làm chứng (trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 Bộ luật Hình sự), người giám định, người định giá tài sản, người dịch thuật. Khung hình phạt tại khoản 1 là cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
Đối với người bị buộc tội, Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự khẳng định nguyên tắc suy đoán vô tội: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.”
Điều 383 Bộ luật Hình sự không liệt kê bị can, bị cáo, người bị tố giác là chủ thể của tội này. Bị can có quyền “Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” (điểm d khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự). Bộ luật không ghi quyền này cho người bị tố giác; người bị tố giác nên trình bày trung thực, trong phạm vi mình biết, và có người bảo vệ đi cùng.
6. Lưu ý
6.1. Rủi ro pháp lý
Rủi ro lớn nhất không nằm ở một buổi vắng mặt mà ở chuỗi hệ quả: bị dẫn giải, mất cơ hội trình bày sớm, hoặc trình bày thiếu chuẩn bị rồi ký biên bản bất lợi. Người quản lý doanh nghiệp được triệu tập về giao dịch của công ty cần tách bạch tư cách cá nhân và tư cách đại diện doanh nghiệp.
6.2. Tác động theo nhóm chủ thể
a) Người làm chứng: nghĩa vụ có mặt và khai báo trung thực; cố ý vắng mặt gây trở ngại có thể bị dẫn giải, từ chối khai báo không có lý do chính đáng có thể bị xử lý theo Điều 383 Bộ luật Hình sự (trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 Bộ luật Hình sự);
b) Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố: nên chuẩn bị tài liệu, chứng cứ và có người bảo vệ ngay từ giai đoạn kiểm tra, xác minh, vì đây là lúc lời trình bày của mình được ghi nhận lần đầu;
c) Doanh nghiệp có người quản lý bị triệu tập: cần thống nhất người làm việc, phạm vi tài liệu cung cấp và tách bạch trách nhiệm cá nhân với hoạt động của công ty.
6.3. Quy định đang được sửa đổi
Dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) đang được Quốc hội khóa XVI thảo luận tại Kỳ họp thứ 2 (tháng 10/2026). Bài viết phân tích theo Bộ luật hiện hành tại ngày cập nhật; Luật 7S sẽ rà soát lại khi Bộ luật mới được thông qua.
6.4. Khuyến nghị của Luật 7S
Luật 7S khuyến nghị: chụp lại giấy triệu tập ngay khi nhận; xác định tư cách và nội dung làm việc; chuẩn bị tài liệu liên quan; không tự ý vắng mặt; đọc kỹ biên bản trước khi ký và ghi ý kiến nếu biên bản chưa đúng lời trình bày.
7. Ví dụ tình huống giả định
Giả định ông B là giám đốc một công ty thương mại tại Hà Nội, nhận giấy triệu tập của Cơ quan Cảnh sát điều tra với tư cách người làm chứng, nội dung “làm rõ giao dịch mua bán hàng hóa giữa công ty với Công ty C”. Ngày làm việc trùng chuyến công tác nước ngoài đã lên lịch.
Chuyến công tác thường không được coi là bất khả kháng. Hướng xử lý hợp lý là ông B liên hệ Điều tra viên trước ngày làm việc, gửi văn bản đề nghị dời lịch kèm lịch trình, và có mặt theo lịch hẹn lại. Do nội dung liên quan đến giao dịch của công ty do mình điều hành, ông B nên rà soát hợp đồng, hóa đơn, chứng từ và cân nhắc có luật sư tư vấn trước buổi làm việc để tránh trình bày lẫn lộn giữa tư cách người làm chứng và trách nhiệm của người quản lý.
8. Luật 7S hỗ trợ gì
Luật 7S hỗ trợ cá nhân và doanh nghiệp khi làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng:
a) Xem giấy triệu tập, giấy mời; xác định tư cách tham gia tố tụng và mức độ rủi ro;
b) Soạn văn bản đề nghị dời lịch, giải trình lý do vắng mặt;
c) Rà soát hồ sơ, hợp đồng, chứng từ của doanh nghiệp liên quan đến nội dung làm việc;
d) Luật sư tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hoặc người bào chữa theo quy định;
đ) Bào chữa, bảo vệ quyền lợi trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử, xem dịch vụ luật sư bào chữa, bảo vệ quyền lợi trong vụ án hình sự.
9. Câu hỏi thường gặp
a) Nhận giấy triệu tập qua Zalo, điện thoại có phải đến không?
Giấy triệu tập người làm chứng phải được giao trực tiếp hoặc qua Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức nơi làm việc, học tập, và phải được ký nhận (điểm a khoản 3 Điều 185). Khi chỉ nhận ảnh hoặc tin nhắn, anh chị nên gọi số điện thoại công khai của cơ quan có tên trên giấy để xác minh, không chuyển tiền hay cung cấp thông tin tài khoản theo yêu cầu qua điện thoại.
b) Giấy triệu tập của cơ quan điều tra không ghi nội dung làm việc thì sao?
Với người làm chứng, giấy triệu tập phải ghi mục đích và nội dung làm việc (khoản 2 Điều 185). Anh chị có thể liên hệ người có tên trên giấy để hỏi rõ, hoặc nhờ luật sư xem giấy trước khi đến.
c) Luật sư có được đi cùng khi tôi chỉ là người bị tố giác?
Có. Người bị tố giác có quyền nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (điểm e khoản 1 Điều 57); luật sư được có mặt khi lấy lời khai (điểm c khoản 3 Điều 83), sau khi hoàn tất thủ tục tham gia theo quy định.
d) Phí thuê luật sư đi cùng buổi làm việc tính thế nào?
Phí phụ thuộc tư cách tham gia, số buổi làm việc, tính chất vụ việc và địa điểm. Luật 7S báo phí bằng văn bản sau khi xem giấy triệu tập và thông tin sơ bộ.
đ) Giám đốc nhận giấy triệu tập về việc của công ty thì nên làm gì trước?
Xác định mình được triệu tập với tư cách cá nhân hay liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp; tập hợp hợp đồng, chứng từ liên quan; thống nhất người đại diện làm việc; và cân nhắc có luật sư tư vấn trước buổi làm việc.
Có luật sư trước khi bước vào buổi làm việc
Gọi hoặc gửi yêu cầu, luật sư Luật 7S liên hệ lại để xem giấy triệu tập và trao đổi tư cách, rủi ro, phương án trước buổi làm việc.
Tác giả: LS. Nguyễn Hữu Hiệp
10. Phụ lục căn cứ pháp luật
| STT | Văn bản pháp luật | Căn cứ pháp lý |
|---|---|---|
| 1 | Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 ngày 27/11/2015, hiệu lực 01/01/2018, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15, Luật số 99/2025/QH15 (hiệu lực 01/7/2025), Luật số 103/2025/QH15, Luật số 105/2025/QH15, Luật số 106/2025/QH15, Luật số 128/2025/QH15 (bản hợp nhất năm 2026 của Văn phòng Quốc hội) | Khoản 2 Điều 127: “Dẫn giải có thể áp dụng đối với: a) Người làm chứng trong trường hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan; b) Người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan; c) Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án, đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.” Khoản 6 Điều 127: “Không được bắt đầu việc áp giải, dẫn giải người vào ban đêm; không được áp giải, dẫn giải người già yếu, người bị bệnh nặng có xác nhận của cơ quan y tế.” Điểm a khoản 4 Điều 62: “Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường hợp cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải;” Điều 13, Điều 16, khoản 1 và khoản 2 Điều 57, điểm d khoản 2 Điều 60, điểm a khoản 4 Điều 66, khoản 2 Điều 185, khoản 1, 3, 5 Điều 127, Điều 137, Điều 182, khoản 3 Điều 185, điểm c khoản 3 Điều 83: Nội dung được trình bày tại phần tương ứng của bài viết. |
| 2 | Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015, hiệu lực 01/01/2018, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 và các luật sửa đổi | Điều 383: Tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định, định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu. Nội dung được trình bày tại mục 5 của bài viết. |
Bài viết cung cấp thông tin pháp luật tại thời điểm cập nhật, không thay thế ý kiến tư vấn cho từng trường hợp cụ thể; quy định có thể thay đổi sau ngày cập nhật.
Liên hệ Luật 7S: 0877 523 888 – lienhe@7slaw.vn





