Mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn: căn cứ, phương thức, chế tài
Cập nhật: 23/10/2026
(Luat7s.com) – Mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn không có con số chung, nhưng không phải khoản tùy ý. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đặt ba căn cứ xác định mức, và từ 01/7/2024 Tòa án có thêm ngưỡng hướng dẫn. Đáng chú ý, người không cấp dưỡng không chỉ bị cưỡng chế mà còn có thể bị phạt tiền, truy cứu hình sự.
Những điểm chính của quy định
Theo quy định hiện hành, mức cấp dưỡng nuôi con do cha mẹ thỏa thuận căn cứ thu nhập, khả năng thực tế của người cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của con; không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định. Luật không ấn định số tiền; khi Tòa án quyết định, mức không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng cho mỗi con mỗi tháng.
Để tiện theo dõi, bảng dưới đây tóm tắt các quy định cốt lõi; từng nội dung được phân tích ở các mục tiếp theo.
| Nội dung | Quy định | Căn cứ |
|---|---|---|
| Người có nghĩa vụ | Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con | Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình |
| Căn cứ xác định mức | Thu nhập, khả năng thực tế của người cấp dưỡng; nhu cầu thiết yếu của con | Khoản 1 Điều 116 |
| Ngưỡng khi Tòa án quyết định | Không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng, mỗi con mỗi tháng | Khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP |
| Phương thức | Định kỳ (hằng tháng, hằng quý, hằng năm) hoặc một lần | Điều 117 |
| Án phí | Người yêu cầu được miễn; người có nghĩa vụ chịu 300.000 đồng | Điều 12, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 |
1. Ai có nghĩa vụ cấp dưỡng và cấp dưỡng đến khi nào
Trước hết, khoản 1 Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19/6/2014 xác định nghĩa vụ cấp dưỡng “được thực hiện giữa cha, mẹ và con”; khoản 2 Điều 82 cụ thể hóa cho trường hợp ly hôn: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.” Theo Điều 110, người được cấp dưỡng là “con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”. Nói cách khác, nghĩa vụ thông thường kéo dài đến khi con đủ 18 tuổi và tiếp tục sau đó nếu con không thể tự nuôi mình.
Nghĩa vụ chấm dứt trong các trường hợp tại Điều 118, như con đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình, con được nhận làm con nuôi, người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi con, người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết. Việc người trực tiếp nuôi tái hôn không nằm trong danh mục này.
2. Căn cứ xác định mức cấp dưỡng nuôi con
2.1. Ba căn cứ của Luật Hôn nhân và gia đình
Về mặt pháp lý, khoản 1 Điều 116 quy định “Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.” Ba căn cứ này gồm:
a) Thu nhập của người cấp dưỡng: tiền lương, thu nhập kinh doanh và thu nhập hợp pháp khác;
b) Khả năng thực tế: tài sản, nghĩa vụ nuôi dưỡng người khác, chi phí sinh hoạt tối thiểu của chính người cấp dưỡng;
c) Nhu cầu thiết yếu của con: ăn, ở, học tập, khám chữa bệnh theo độ tuổi và nơi sinh sống.
Khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao làm rõ: “Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận.”
2.2. Pháp luật không ấn định số tiền, chỉ đặt ngưỡng khi Tòa án quyết định
Điểm cần lưu ý là Luật Hôn nhân và gia đình không quy định một số tiền hay tỷ lệ thu nhập cố định; các con số như “30% thu nhập” không phải là quy định của Luật này. Khung pháp lý được bổ sung khi khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn: “Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con.”
Theo đó, ngưỡng này là mức sàn khi Tòa án phải quyết định, không phải mức chuẩn; mức thực tế có thể cao hơn tùy chứng cứ. Theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP ngày 10/11/2025, áp dụng từ 01/01/2026, lương tối thiểu tháng vùng I là 5.310.000 đồng, nên một nửa tương ứng 2.655.000 đồng mỗi con mỗi tháng với người cấp dưỡng cư trú tại vùng I. Hiện vẫn có ý kiến khác nhau về việc ngưỡng này tính cho phần của người không trực tiếp nuôi hay cho tổng chi phí của con, vì vậy mức yêu cầu nên được lập luận từ chứng cứ về nhu cầu thực tế của con.
3. Cấp dưỡng hằng tháng hay cấp dưỡng một lần
Về phương thức, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình cho phép cấp dưỡng định kỳ (hằng tháng, hằng quý, hằng năm) hoặc một lần. Khi các bên không thỏa thuận được, khoản 3 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn Tòa án quyết định “phương thức cấp dưỡng hàng tháng hoặc phương thức khác phù hợp với nhu cầu, lợi ích của con và điều kiện kinh tế của người cấp dưỡng.”
Trên thực tế, tiền cấp dưỡng hằng tháng phù hợp với người có thu nhập đều đặn nhưng phụ thuộc vào ý thức thực hiện lâu dài. Cấp dưỡng một lần loại bỏ rủi ro chậm trả, phù hợp khi người cấp dưỡng sắp ra nước ngoài hoặc có tài sản lớn nhưng thu nhập không ổn định; đổi lại, người trực tiếp nuôi phải quản lý khoản tiền đến khi con trưởng thành.
4. Thời điểm phát sinh, thay đổi mức và tạm ngừng
Về thời điểm, khoản 4 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn nghĩa vụ cấp dưỡng “phát sinh kể từ thời điểm cha, mẹ không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.” Hệ quả là khi vợ chồng đã ly thân trước khi ly hôn, người trực tiếp nuôi có cơ sở yêu cầu tính từ thời điểm ly thân nếu chứng minh được.
Mức đã định cũng có thể điều chỉnh. Khoản 2 Điều 116 quy định “Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi.” Lý do có thể là con chuyển cấp học, mắc bệnh dài ngày, hoặc người cấp dưỡng mất việc. Đồng thời, Điều 117 cho phép “Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng” khi người cấp dưỡng lâm vào khó khăn kinh tế mà không có khả năng thực hiện; không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án. Tự ý ngừng trả, không qua thỏa thuận hoặc quyết định của Tòa án, là vi phạm nghĩa vụ.
5. Thỏa thuận không yêu cầu cấp dưỡng khi ly hôn
Trên thực tế, một bên thường đề nghị: “Để tôi nuôi con, anh/chị không phải cấp dưỡng”. Khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP quy định khi đó Tòa án “giải thích cho họ việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con.” Chỉ khi người trực tiếp nuôi có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng và việc không yêu cầu là tự nguyện, Tòa án mới không buộc bên kia cấp dưỡng.
Về bản chất, quyền được cấp dưỡng thuộc về con. Vì vậy, Công ty Luật TNHH 7S cho rằng việc không yêu cầu tại thời điểm ly hôn nên được hiểu là chưa thực hiện quyền yêu cầu, không phải miễn vĩnh viễn nghĩa vụ: trường hợp này không thuộc các căn cứ chấm dứt tại Điều 118, và Điều 119 vẫn cho cha, mẹ hoặc người giám hộ quyền yêu cầu Tòa án buộc thực hiện. Thỏa thuận mức quá thấp, đưa ra như điều kiện đổi lấy quyền nuôi con, có thể không được công nhận nếu không bảo đảm quyền lợi của con. Tiêu chí giao con xem tại bài quyền nuôi con sau ly hôn.
6. Không cấp dưỡng cho con xử lý thế nào
Khi người có nghĩa vụ không trả, người trực tiếp nuôi có thể sử dụng các biện pháp theo mức độ tăng dần.
Khởi kiện tranh chấp về cấp dưỡng (khoản 5 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự) tại Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền, xác định theo hướng dẫn tại bài ly hôn tại Hà Nội nộp đơn ở tòa nào. Ngoài cha, mẹ, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, về trẻ em và Hội liên hiệp phụ nữ cũng có quyền yêu cầu (Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình).
Gửi đơn đến cơ quan thi hành án dân sự trong thời hiệu 05 năm; với nghĩa vụ định kỳ, thời hiệu tính cho từng kỳ kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn (Điều 34 Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 ngày 05/12/2025, hiệu lực 01/7/2026).
Điểm c khoản 2 Điều 76 Luật Thi hành án dân sự 2025 cho phép trừ vào thu nhập khi “Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ”; người sử dụng lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm thực hiện quyết định khấu trừ, sau khi để lại số tiền bảo đảm sinh hoạt tối thiểu cho người phải thi hành án.
Theo điểm b khoản 1 Điều 43 Nghị định 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025, hiệu lực 15/12/2025, hành vi từ chối hoặc trốn tránh “nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật” bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và buộc thực hiện nghĩa vụ (khoản 2 Điều 43).
Theo Điều 186 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025), người có nghĩa vụ và có khả năng thực tế mà từ chối hoặc trốn tránh cấp dưỡng, làm người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Quyết định xử phạt ở Bước 4 vì vậy là chứng cứ quan trọng nếu hành vi tiếp diễn.
7. Án phí yêu cầu cấp dưỡng
Về chi phí, điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí cho “Người yêu cầu cấp dưỡng, xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự;” Ngược lại, theo điểm a khoản 6 Điều 27, “Người có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ hoặc một lần theo quyết định của Tòa án phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án dân sự không có giá ngạch;” tức 300.000 đồng; nếu các bên thỏa thuận được mức và phương thức trước khi mở phiên tòa, người có nghĩa vụ chịu 50% (điểm b khoản 6 Điều 27). Có thể ước tính bằng tiện ích Tính án phí Tòa án.
8. Lưu ý
8.1. Chế tài, rủi ro
Người chậm trả có thể bị trừ thu nhập, phạt tiền đến 10.000.000 đồng và, nếu tái phạm sau xử phạt, bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ở chiều ngược lại, yêu cầu mức cao mà không chứng minh được thu nhập của bên kia và nhu cầu của con có thể chỉ được chấp nhận một phần.
8.2. Tác động theo nhóm chủ thể
Từ đây phát sinh những tác động khác nhau:
a) Đối với người trực tiếp nuôi con: được miễn án phí; nên lập bảng chi phí thực tế của con kèm hóa đơn, biên lai;
b) Đối với người cấp dưỡng: có quyền yêu cầu giảm mức hoặc tạm ngừng khi khó khăn, nhưng phải qua thỏa thuận hoặc Tòa án;
c) Đối với người hưởng lương, lương hưu: tiền cấp dưỡng có thể bị khấu trừ trực tiếp qua người sử dụng lao động hoặc cơ quan bảo hiểm xã hội.
8.3. Khuyến nghị của Luật 7S
Trên cơ sở đó, Luật 7S cho rằng mức cấp dưỡng nên được dựng từ bảng nhu cầu có chứng từ của con và tài liệu thu nhập của người cấp dưỡng; thỏa thuận nên ghi rõ mức, phương thức, ngày thanh toán, tài khoản nhận và cơ chế điều chỉnh khi con chuyển cấp học. Khi bên kia không thực hiện, nên đi đúng trình tự thi hành án, xử phạt rồi mới tố giác hình sự để mỗi bước tạo chứng cứ cho bước sau. Phạm vi hỗ trợ của luật sư xem tại dịch vụ luật sư ly hôn; để trao đổi về hồ sơ của mình, gọi 0877 523 888 hoặc nhắn Zalo.
Ý kiến luật sư
“Pháp luật không cho con số cấp dưỡng sẵn có; con số thuyết phục được Tòa án là con số dựng từ hóa đơn của con và thu nhập thật của người cấp dưỡng.” – Luật sư Nguyễn Hữu Hiệp, Giám đốc Công ty Luật TNHH 7S.
9. Ví dụ tình huống
Để minh họa cách áp dụng các quy định về mức cấp dưỡng, dưới đây là một tình huống giả định; mọi số liệu chỉ nhằm minh họa.
Chị A và anh B ly hôn tại Hà Nội, con chung 06 tuổi do chị A nuôi. Anh B cư trú tại vùng I, thu nhập 25.000.000 đồng/tháng; chị A chứng minh chi phí thiết yếu của con khoảng 8.000.000 đồng/tháng bằng biên lai, hóa đơn. Giả định Tòa án quyết định anh B cấp dưỡng 4.000.000 đồng/tháng; mức này cao hơn ngưỡng 2.655.000 đồng nên phù hợp khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP. Anh B chịu án phí cấp dưỡng 300.000 đồng; chị A được miễn.
Giả định sau 08 tháng anh B ngừng trả, tổng số chậm trả 32.000.000 đồng. Chị A yêu cầu thi hành án và đề nghị trừ vào lương của anh B; nếu anh B tiếp tục trốn tránh sau khi đã bị phạt theo Điều 43 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, hành vi có thể bị xem xét theo Điều 186 Bộ luật Hình sự. Kết quả cụ thể phụ thuộc vào chứng cứ và đánh giá của cơ quan có thẩm quyền.
10. Câu hỏi thường gặp
Dưới đây là những câu hỏi Luật 7S thường nhận được về mức cấp dưỡng nuôi con.
a) Mức cấp dưỡng nuôi con tối thiểu là bao nhiêu?
Luật Hôn nhân và gia đình không quy định mức tối thiểu; khi Tòa án quyết định, mức không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng nơi người cấp dưỡng cư trú, cho mỗi con mỗi tháng.
b) Mẹ tái hôn thì cha có được ngừng cấp dưỡng không?
Không. Trường hợp này không thuộc các căn cứ chấm dứt tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình.
c) Đã thỏa thuận không cấp dưỡng khi ly hôn, nay có yêu cầu được không?
Có thể yêu cầu theo Điều 119; người yêu cầu cấp dưỡng được miễn án phí.
Tác giả: LS. Nguyễn Hữu Hiệp
11. Phụ lục căn cứ pháp luật
Để tiện tra cứu, các văn bản và điều khoản được dẫn trong bài được tổng hợp tại bảng sau.
| STT | Văn bản pháp luật | Căn cứ pháp lý |
|---|---|---|
| 1 | Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19/6/2014, hiệu lực 01/01/2015 (văn bản hợp nhất 121/VBHN-VPQH ngày 27/8/2025) | Khoản 2 Điều 82: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.” Điều 110: “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình” Khoản 2 Điều 116: “Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi.” Điều 117: “Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng” Điều 107, khoản 1 Điều 116, Điều 118, Điều 119: Nội dung được trình bày tại phần tương ứng của bài viết. |
| 2 | Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hiệu lực 01/7/2024 | Khoản 2 Điều 7: “Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con.” Khoản 4 Điều 7: “phát sinh kể từ thời điểm cha, mẹ không sống chung với con” Khoản 1, khoản 3 Điều 7: Nội dung được trình bày tại phần tương ứng của bài viết. |
| 3 | Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, hiệu lực 01/01/2017 | Điểm b khoản 1 Điều 12: “Người yêu cầu cấp dưỡng, xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự;” Điểm a khoản 6 Điều 27: “Người có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ hoặc một lần theo quyết định của Tòa án phải chịu án phí dân sự sơ thẩm” Điểm b khoản 6 Điều 27: Nội dung được trình bày tại phần tương ứng của bài viết. |
| 4 | Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 (văn bản hợp nhất 99/VBHN-VPQH năm 2025) | Khoản 5 Điều 28: “Tranh chấp về cấp dưỡng.” |
| 5 | Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 ngày 05/12/2025, hiệu lực 01/7/2026 | Điều 34, Điều 76: Nội dung được trình bày tại phần tương ứng của bài viết. |
| 6 | Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ, hiệu lực 15/12/2025 | Điểm b khoản 1 Điều 43: “nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.” Khoản 2 Điều 43: “Buộc thực hiện nghĩa vụ đóng góp, nuôi dưỡng theo quy định đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này.” |
| 7 | Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và bởi Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025, hiệu lực 01/7/2025 | Điều 186: Nội dung được trình bày tại phần tương ứng của bài viết. |
| 8 | Nghị định số 293/2025/NĐ-CP ngày 10/11/2025 của Chính phủ về mức lương tối thiểu | Mức lương tối thiểu vùng: Nội dung được trình bày tại phần tương ứng của bài viết. |
Bài viết cung cấp thông tin pháp luật tại thời điểm cập nhật, không thay thế ý kiến tư vấn cho từng trường hợp cụ thể; quy định có thể thay đổi sau ngày cập nhật.
Liên hệ Luật 7S: 0877 523 888 – lienhe@7slaw.vn


