Pháp luật Việt Nam hiện không dùng thuật ngữ “đầu tư trực tiếp nước ngoài” như một khái niệm pháp lý. Thay vào đó, Luật Đầu tư năm 2025 điều chỉnh hoạt động đầu tư kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài có thể chọn một trong bốn hình thức: thành lập doanh nghiệp, góp vốn hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam, thực hiện dự án đầu tư, hoặc ký hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC). Pháp luật không đặt mức vốn góp tối thiểu chung. Giới hạn tỷ lệ sở hữu chỉ áp dụng với một số ngành nghề hạn chế tiếp cận thị trường.
Nội dung bài viết
Theo cách hiểu kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là việc nhà đầu tư đưa vốn vào một nước khác và trực tiếp tham gia quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Điểm khác với đầu tư gián tiếp là quyền kiểm soát: người mua cổ phiếu trên sàn chứng khoán mà không tham gia quản lý là đầu tư gián tiếp.
Pháp luật đầu tư Việt Nam đã bỏ cặp khái niệm “đầu tư trực tiếp” và “đầu tư gián tiếp” từ Luật Đầu tư năm 2014, thay bằng khái niệm chung là “đầu tư kinh doanh”. Luật Đầu tư năm 2025 tiếp tục cách tiếp cận này và xác định chủ thể như sau (Điều 3):
Như vậy, chỉ cần có một thành viên hoặc cổ đông nước ngoài, bất kể tỷ lệ vốn, doanh nghiệp đã là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thường được gọi là doanh nghiệp FDI.
Thứ nhất, thành lập tổ chức kinh tế. Đây là hình thức phổ biến nhất, thường là thành lập công ty TNHH hoặc công ty cổ phần. Điểm mới quan trọng là từ ngày 01/03/2026, nhà đầu tư nước ngoài được thành lập doanh nghiệp trước, sau đó mới làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (GCNĐKĐT) (khoản 2 Điều 19 Luật Đầu tư). Trước đây, thứ tự là bắt buộc ngược lại. Tuy nhiên, doanh nghiệp thành lập theo cách này phải hoàn thành thủ tục GCNĐKĐT trong 12 tháng, chỉ được triển khai dự án sau khi có GCNĐKĐT, và chỉ được bổ sung ngành nghề khác sau khi đã có GCNĐKĐT (khoản 4 Điều 72 Nghị định 96/2026/NĐ-CP). Nhà đầu tư vì vậy vẫn cần chuẩn bị hồ sơ dự án ngay từ đầu.
Thứ hai, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam. Hình thức này không phải cấp GCNĐKĐT. Nhà đầu tư chỉ phải đăng ký góp vốn, mua cổ phần trước khi thay đổi thành viên, cổ đông trong ba trường hợp: doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề tiếp cận thị trường có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài; giao dịch làm sở hữu nước ngoài vượt 50% vốn điều lệ hoặc tăng thêm khi đã trên 50%; hoặc doanh nghiệp có đất tại đảo, xã, phường, đặc khu biên giới, ven biển hoặc khu vực ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh (khoản 3 Điều 21 Luật Đầu tư).
Thứ ba, thực hiện dự án đầu tư. Doanh nghiệp FDI đã thành lập tại Việt Nam, khi có dự án mới, chỉ cần làm thủ tục cho dự án đó mà không bắt buộc thành lập doanh nghiệp mới (khoản 3 Điều 20 Luật Đầu tư).
Thứ tư, hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC). Các bên hợp tác và phân chia lợi nhuận mà không lập pháp nhân mới. Hợp đồng BCC có nhà đầu tư nước ngoài phải làm thủ tục cấp GCNĐKĐT (khoản 2 Điều 22 Luật Đầu tư). Nhà đầu tư nước ngoài được thành lập văn phòng điều hành tại Việt Nam để thực hiện hợp đồng (Điều 37).
Bảng dưới đây tóm tắt thủ tục chính của từng hình thức:
| Hình thức | Có phải cấp GCNĐKĐT | Căn cứ |
|---|---|---|
| Thành lập tổ chức kinh tế | Có; được thành lập doanh nghiệp trước, hoàn thành GCNĐKĐT trong 12 tháng | Khoản 2 Điều 19 Luật Đầu tư; Điều 72 Nghị định 96/2026/NĐ-CP |
| Góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp | Không; chỉ đăng ký góp vốn trong 3 trường hợp luật định | Điều 21, điểm c khoản 2 Điều 26 Luật Đầu tư |
| Thực hiện dự án đầu tư | Có, cho dự án mới của doanh nghiệp FDI | Khoản 3 Điều 20, Điều 26 Luật Đầu tư |
| Hợp đồng BCC | Có | Khoản 2 Điều 22 Luật Đầu tư |
Đây là điểm nhiều nhà đầu tư chưa để ý khi thiết kế cơ cấu sở hữu. Theo khoản 1 Điều 20 Luật Đầu tư, một doanh nghiệp thành lập tại Việt Nam vẫn phải đáp ứng điều kiện và làm thủ tục như nhà đầu tư nước ngoài khi đi góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác hoặc thực hiện dự án mới, nếu nhà đầu tư nước ngoài (trực tiếp hoặc thông qua doanh nghiệp FDI khác) nắm giữ trên 50% vốn điều lệ. Ngược lại, doanh nghiệp FDI mà sở hữu nước ngoài từ 50% trở xuống được làm thủ tục như nhà đầu tư trong nước khi thành lập doanh nghiệp khác, góp vốn hoặc ký hợp đồng BCC (khoản 2 Điều 20).
Trong các liên doanh, chênh lệch nhỏ quanh ngưỡng 50% có thể quyết định cả thủ tục lẫn thời gian triển khai các khoản đầu tư về sau. Vì vậy, cần tính đến ngưỡng này ngay từ khi phân chia tỷ lệ vốn.
Nguyên tắc chung là nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường như nhà đầu tư trong nước (khoản 1 Điều 8 Luật Đầu tư). Ngoại lệ là các ngành nghề trong Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường do Chính phủ công bố. Với các ngành này, nhà đầu tư nước ngoài có thể bị giới hạn tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ, hình thức đầu tư, phạm vi hoạt động, hoặc phải đáp ứng yêu cầu về năng lực, đối tác (khoản 3 Điều 8).
Một số tài liệu cũ vẫn ghi rằng phần vốn góp của bên nước ngoài phải đạt tối thiểu 30% vốn pháp định. Đây là quy định của pháp luật đầu tư nước ngoài trước đây và không còn áp dụng. Nhà đầu tư nước ngoài hiện có thể góp bất kỳ tỷ lệ nào, kể cả 100% vốn, trừ khi ngành nghề bị hạn chế.
Bên cạnh đó, mọi nhà đầu tư đều không được kinh doanh các ngành nghề cấm tại khoản 1 Điều 6 Luật Đầu tư. Luật năm 2025 bổ sung thêm ngành cấm mới là kinh doanh thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.
Luật Đầu tư dành một chương cho các biện pháp bảo đảm đầu tư. Tài sản hợp pháp của nhà đầu tư không bị quốc hữu hóa hoặc tịch thu bằng biện pháp hành chính (Điều 9). Sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính, nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài vốn đầu tư, các khoản thanh lý đầu tư và thu nhập từ hoạt động kinh doanh (Điều 11). Nếu pháp luật mới quy định ưu đãi thấp hơn, nhà đầu tư được tiếp tục hưởng ưu đãi cũ cho thời gian còn lại, trừ một số trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh, môi trường (Điều 12). Tranh chấp giữa các nhà đầu tư, trong đó có ít nhất một bên là nhà đầu tư nước ngoài, có thể được giải quyết tại Tòa án Việt Nam, Trọng tài Việt Nam, Trọng tài nước ngoài hoặc Trọng tài quốc tế (khoản 3 Điều 13).
Luật 7S tư vấn cho nhà đầu tư nước ngoài từ bước lựa chọn hình thức đầu tư, thiết kế cơ cấu sở hữu và rà soát điều kiện tiếp cận thị trường, đến thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp, cấp GCNĐKĐT, đăng ký góp vốn, mua cổ phần và các thủ tục sau cấp phép. Tham khảo thêm: Điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Trên đây là ý kiến của chúng tôi về đầu tư trực tiếp nước ngoài theo pháp luật hiện hành. Nếu Quý nhà đầu tư đang cân nhắc đầu tư vào Việt Nam, vui lòng gửi thông tin về ngành nghề, địa điểm và cơ cấu vốn dự kiến cho Luật 7S để chúng tôi tư vấn phương án phù hợp.
Trân trọng,
Bộ phận Nghiên cứu Pháp lý – Luật 7S
Hà Nội: 0877 523 888 · TP. Hồ Chí Minh: 0911 173 322 · Email: lienhe@7slaw.vn
| Văn bản | Tình trạng tại ngày 28/09/2026 |
|---|---|
| Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 ngày 11/12/2025 | Có hiệu lực từ 01/03/2026, thay thế Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 |
| Nghị định số 96/2026/NĐ-CP ngày 31/03/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư | Có hiệu lực từ 31/03/2026, thay thế Nghị định số 31/2021/NĐ-CP |
Bài viết phản ánh quy định pháp luật có hiệu lực tại ngày 28/09/2026. Luật số 24/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư sẽ có hiệu lực từ ngày 01/03/2027; chúng tôi sẽ cập nhật bài viết khi đó. Nội dung bài viết mang tính tham khảo chung; với từng hồ sơ cụ thể, Quý nhà đầu tư nên trao đổi trực tiếp với luật sư.