Đề nghị báo giá: 0877523888 - 0911.173.322 - lienhe@7slaw.vn

QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ KHI DOANH NGHIỆP MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN

(Luat7s.com) – Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 và Nghị định số 187/2026/NĐ-CP ngày 27/5/2026 của Chính phủ quy định nghĩa vụ, trách nhiệm và các hạn chế đối với người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán.

Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026; Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 27/5/2026. Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán (khoản 2 Điều 5).

I. NGHĨA VỤ NỘP ĐƠN YÊU CẦU ÁP DỤNG THỦ TỤC PHÁ SẢN

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã; Hội đồng quản trị của công ty cổ phần; Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; Hội đồng thành viên của công ty hợp danh có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, trừ trường hợp đã nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi (Điều 38).

II. CẤM CHE GIẤU, TẨU TÁN TÀI SẢN

Hành vi che giấu, tẩu tán tài sản bị cấm trong suốt quá trình giải quyết vụ việc, kể cả giai đoạn phục hồi (khoản 2 Điều 42). Giao dịch thực hiện trong 06 tháng trước ngày mở thủ tục phá sản, hoặc 18 tháng đối với giao dịch với người có liên quan, có thể bị coi là vô hiệu nếu thuộc các trường hợp luật định (Điều 49).

III. THAY ĐỔI NGƯỜI ĐẠI DIỆN VÀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG

Nghị định số 187/2026/NĐ-CP quy định:

– Việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản.
– Việc giám sát hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản.
– Việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có vốn nhà nước sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi.
– Việc chuyển nhượng đồng bộ tài sản, chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ mảng kinh doanh, hoặc một phần, toàn bộ doanh nghiệp sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản.

IV. HẠN CHẾ QUYỀN SAU KHI DOANH NGHIỆP BỊ TUYÊN BỐ PHÁ SẢN

a) Người giữ chức vụ quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản mà cố ý vi phạm quy định của Luật có thể bị Thẩm phán quyết định không được quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn 03 năm kể từ ngày Tòa án có quyết định tuyên bố phá sản (Điều 84);
b) Người giữ chức vụ chủ tịch, tổng giám đốc, giám đốc, thành viên hội đồng thành viên của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ bị tuyên bố phá sản, hoặc người đại diện phần vốn nhà nước ở doanh nghiệp có vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản, không được đảm nhiệm các chức vụ đó ở bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào trong thời hạn 03 năm kể từ ngày Tòa án có quyết định tuyên bố phá sản (Điều 84).

V. SỐ LIỆU THỰC TIỄN

Chỉ tiêuNăm 20259 tháng năm 2026
Doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn114,4 nghìn (tăng 14,3%)89,8 nghìn (giảm 9,7%)
Doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể76,9 nghìn (tăng 0,9%)33,5 nghìn (giảm 37%)
Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể35,9 nghìn (tăng 66,1%)48,7 nghìn (tăng 118,8%)
Bình quân doanh nghiệp rút lui mỗi tháng18,9 nghìn19,1 nghìn

– Năm 2024, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường đạt mức kỷ lục 197,9 nghìn doanh nghiệp, tăng 14,7% so với năm 2023.
– Doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường 9 tháng năm 2026 chủ yếu có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 90,3%.
– Trong khi đó, từ ngày 01/01/2015 đến ngày 30/9/2023, toàn hệ thống Tòa án chỉ thụ lý 1.510 vụ việc phá sản; phần lớn doanh nghiệp rời thị trường không đi qua thủ tục phá sản tại Tòa án.

VI. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG VÀ LƯU Ý

1. Đối với người đại diện theo pháp luật và Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên

– Khi doanh nghiệp đã quá hạn thanh toán khoản nợ trên 06 tháng, người quản lý cần cân nhắc ngay việc nộp đơn phục hồi hoặc phá sản để thực hiện nghĩa vụ theo Luật.
– Các quyết định chuyển nhượng tài sản, thanh toán cho người có liên quan trong giai đoạn khó khăn có thể bị xem xét lại và ảnh hưởng đến quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp sau này.
– Việc để doanh nghiệp ngừng hoạt động, bỏ địa chỉ kinh doanh mà không xử lý nghĩa vụ có thể dẫn đến việc cơ quan quản lý thuế, cơ quan bảo hiểm xã hội nộp đơn yêu cầu phá sản.

2. Đối với cổ đông, thành viên góp vốn

– Cổ đông, thành viên nên yêu cầu ban điều hành báo cáo định kỳ tình hình thanh toán nợ để kịp thời thực hiện quyền yêu cầu phục hồi hoặc phá sản.

Lưu ý thực hiện: mọi biên bản họp, nghị quyết về việc xử lý nợ và tài sản trong giai đoạn khó khăn nên được lập đầy đủ, vì đây là chứng cứ chứng minh người quản lý không cố ý vi phạm.

Nguồn số liệu: Cục Thống kê, Bộ Tài chính, Bức tranh phát triển doanh nghiệp Việt Nam năm 2025 (01/2026) và báo cáo tình hình kinh tế – xã hội 9 tháng năm 2026 (03/10/2026); VCCI (12/3/2025); Báo Thanh Niên (03/10/2026); Báo Pháp Luật TP.HCM (22/10/2024).

Đọc thêm

Thẻ tag: Nghị định 187/2026/NĐ-CPNGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬTphá sản doanh nghiệptrách nhiệm người quản lý

HN: 0877523888
HCM: 0911.173.322