(Luat7s.com) – Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005 và Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015 quy định khác nhau về mức phạt vi phạm, quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, cách tính lãi chậm thanh toán. Áp dụng sai văn bản có thể làm doanh nghiệp mất quyền yêu cầu bồi thường hoặc bị giới hạn mức phạt.
Luật Thương mại có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 và được hợp nhất mới nhất tại Văn bản hợp nhất số 113/VBHN-VPQH ngày 27/8/2025; các lần sửa đổi đến nay chưa thay đổi nhóm điều khoản về chế tài hợp đồng. Bộ luật Dân sự có hiệu lực từ ngày 01/01/2017.
Điểm khác biệt đầu tiên giữa hai văn bản là giới hạn mức phạt.
Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này. (Điều 301 Luật Thương mại)
Đối với hợp đồng dân sự, mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác (khoản 2 Điều 418 Bộ luật Dân sự).
| Nội dung | Bộ luật Dân sự | Luật Thương mại |
|---|---|---|
| Mức phạt | Các bên thỏa thuận (khoản 2 Điều 418) | Không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm (Điều 301) |
| Quan hệ giữa phạt và bồi thường | Có thỏa thuận phạt nhưng không thỏa thuận vừa phạt vừa bồi thường thì chỉ phải chịu phạt (khoản 3 Điều 418) | Có thỏa thuận phạt thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại (khoản 2 Điều 307) |
Khác với phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại đòi hỏi bên bị vi phạm chứng minh được thiệt hại thực tế.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau (Điều 303 Luật Thương mại):
a) Có hành vi vi phạm hợp đồng
b) Có thiệt hại thực tế
c) Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại
Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. (khoản 2 Điều 302 Luật Thương mại)
Trong tranh chấp thanh toán, khoản lãi chậm trả có thể chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị yêu cầu.
Đối với hợp đồng thương mại, trường hợp bên vi phạm chậm thanh toán tiền hàng hay thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (Điều 306 Luật Thương mại).
Đối với hợp đồng dân sự, bên chậm trả tiền phải trả lãi tương ứng với thời gian chậm trả (khoản 1 Điều 357). Lãi suất thỏa thuận không vượt quá 20%/năm; trường hợp không xác định rõ lãi suất thì áp dụng 50% mức giới hạn này (Điều 468).
Án lệ số 09/2016/AL hướng dẫn xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường bằng mức trung bình của ít nhất 03 ngân hàng tại địa phương, và không tính lãi trên số tiền phạt vi phạm, tiền bồi thường thiệt hại.
Bên vi phạm chỉ được miễn trách trong những trường hợp luật định và phải tự chứng minh.
a) Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận
b) Xảy ra sự kiện bất khả kháng
c) Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia
d) Hành vi vi phạm do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng
Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm (Điều 294 Luật Thương mại).
Vụ việc dưới đây cho thấy giá trị của các khoản lãi chậm trả khi tranh chấp kéo dài.
a) Ricons – Coteccons: theo thông tin báo chí, phán quyết trọng tài buộc Công ty Cổ phần Xây dựng Coteccons thanh toán gần 170 tỷ đồng, gồm khoảng 144 tỷ đồng nợ gốc, 22 tỷ đồng lãi chậm trả và hơn 3 tỷ đồng phí trọng tài, chi phí pháp lý; ngày 27/5/2025, cơ quan thi hành án phong tỏa tài khoản để thi hành; tranh chấp kéo dài khoảng 6 năm
b) Năm 2025, tranh chấp mua bán hàng hóa chiếm 24% và xây dựng chiếm 23% tổng số vụ tại VIAC, hai lĩnh vực có nhiều điều khoản phạt và thanh toán theo tiến độ
Từ các quy định và thực tiễn trên, có thể rút ra một số lưu ý khi soạn thảo và khi yêu cầu áp dụng chế tài.
6.1. Khi soạn thảo hợp đồng
a) Hợp đồng thương mại nên đặt mức phạt trong giới hạn 8%; phần vượt có nguy cơ không được chấp nhận
b) Hợp đồng dân sự nên ghi rõ việc vừa phạt vi phạm vừa bồi thường thiệt hại, nếu không bên vi phạm có thể chỉ phải chịu phạt
c) Nên thỏa thuận cụ thể lãi suất chậm thanh toán và cách tính
6.2. Khi yêu cầu áp dụng chế tài
a) Bên bị vi phạm nên lưu giữ chứng cứ về thiệt hại thực tế và khoản lợi bị mất để yêu cầu bồi thường
b) Bên vi phạm muốn được miễn trách phải thông báo và chứng minh sự kiện miễn trách
Lưu ý thực hiện: không tính lãi trên tiền phạt vi phạm và tiền bồi thường thiệt hại theo hướng dẫn của Án lệ số 09/2016/AL.
Nguồn số liệu, vụ việc: Người Quan Sát (28/5/2025); VIAC, Thống kê hoạt động giải quyết tranh chấp năm 2025 (12/5/2026); Thư viện Pháp luật (Án lệ số 09/2016/AL).
Lưu ý: Bài viết chỉ nhằm cung cấp thông tin chung về quy định pháp luật tại thời điểm đăng tải và không phải là ý kiến tư vấn pháp lý cho bất kỳ trường hợp cụ thể nào. Các văn bản pháp luật được dẫn chiếu có thể đã được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế sau ngày đăng; Quý khách nên tham vấn luật sư trước khi áp dụng nội dung bài viết vào trường hợp của mình.
Doanh nghiệp cần soạn điều khoản chế tài hoặc tính toán yêu cầu phạt, bồi thường khi đối tác vi phạm, xem thêm Dịch vụ tư vấn, soạn thảo và rà soát hợp đồng của Luật 7S.